Chào mừng bạn đến với Gia Đình Duy Duy - Chúc bạn vui vẻ và hạnh phúc !

Thứ Bảy, 30 tháng 10, 2010

Phúc âm Chúa Nhật 31 Q.N.C (31/10/2010)

Nguồn : www.40giayloichua.net Mời nghe bài giảng chủ đề "GIÁ TRỊ TUYỆT ĐỐI" của Linh Mục Phêrô Bùi Quang Tuấn, C.Ss.R THIÊN CHÚA KÊU MỜI CHÚNG TA VÀO BÀN TIỆC (Lc19, 1-10) Fr. Jude Siciliano, OP Ngày xưa các cụ sống trong văn hoá Khổng Mạnh, việc đặt tên cho con cháu là hệ trọng. Các cụ chọn ngày tháng, bói quẻ, mở sổ sách kiếm tên cho đứa trẻ mới sinh. Nhưng việc đó không hẳn tự động tạo nên nhân cách cho nó. Ví dụ: Hùng, chưa chắc nó sẽ là một tay thể thao cừ khôi. Mến, chưa hẳn là một cô gái hiền hoà. Hoa, không báo trước đứa trẻ đẹp, có khi ngược lại còn xấu như ma mút. Nhung, đa số là phụ nữ dữ tợn, trộm cướp. Bên Phương Tây cũng vậy. "Marie" đâu phải là một người nhân đức như Ðức Maria. Steve không giống như thánh Têphanô. Bob đâu phải là thánh Giacôbê. Christina chưa chắc là một tín hữu nhiệt thành. Nhưng đôi khi tên cũng trùng hợp với hạnh kiểm người mang nó, nhất là khi đương sự được hưởng một ơn đặc biệt. Trường hợp này có trong Tin mừng hôm nay. Truyện của ông Giakêu. Trước khi gặp gỡ Ðức Giêsu, ông Giakêu sống ngược với ý nghĩa của tên mình. Vì Giakêu trong tiếng Do thái có nghĩa là trong sạch, người công chính được Chúa nhớ tới . Nhưng ông lại là đầu mục của phường thu thuế. Trong con mắt dân chúng lúc ấy, ông là kẻ đại tội lỗi. Thánh Luca còn miêu tả ông là người giàu có. Thu thuế, giàu có, chắc chắn là kẻ bất lương, phản bội dân tộc mình, nhờ uy đế quốc Roma đàn áp và bóc lột dân đen. Thời ấy, người La Mã không trực tiếp thu thuế dân thuộc địa mà cho thầy từng vùng, từng miền. Quan chức địa phương nào bỏ thầu cao nhất thì được thu thuế của dân chúng miền hoặc vùng đó. Hệ thống này cho phép những kẻ tham lam nhiều cơ hội làm giàu. Bởi lẽ họ biết rõ tình hình tài chính của dân chúng trong vùng, họ sẽ lợi dựng để vơ vét, bóc lột không thương tiếc. Họ sẽ thuê mướn những tay côn đồ khác để vắt cạn kiệt tiền bạc của các gia đình. Sau khi trả cho người Roma số tiền bỏ thầu, phần dư khổng lồ sẽ vào túi các quan chức địa phương này. Do đó họ tối đa hút máu mủ của dân địa phương. Quần chúng khinh bỉ coi họ là người tội lỗi , ngang hàng với đĩ điếm. Thánh Luca cho biết Giakêu rất giàu có, cho nên chúng ta có thể ước đoán ông đã lỗi phạm khá nhiều trong nghề nghiệp. Ở tình trạng như thế, việc Chúa Giêsu tìm gặp ông Giakêu không phải là ngẫu nhiên. Thiên Chúa đã xúi giục ông tò mò trèo lên cây sung để có thể xem thấy Ðức Giêsu đi ngang qua. Ðây là điểm chính yếu của câu chuyện hôm nay. Giakêu hoàn toàn bất lực không có khả năng thoát ra khỏi tình trạng luân lý của mình. Ông không có công trạng nào để được Chúa thương tha thứ. Tên Giakêu của ông là một trò cười đối với nghề nghiệp và nếp sống của mình. Ông sống hoàn toàn trái ngược với tiêu huẩn đạo đức của xã hội. Vậy mà trước khi câu chuyện kết thúc, Chúa Giêsu xác nhận ông là: "Con cháu tổ phụ Abraham", nghĩa là kẻ được thừa hưởng lời hứa cứu độ của Thiên Chúa, kẻ được sống trong Giao ước với Thiên Chúa. Câu chuyện thât lạ lùng, khiến cho dân chúng bàng hoàng và phái Pharisêu lộn ruột. Nếu như Giakêu thực sự như Chúa Giêsu nói, thì ông phải cảm thương đồng bào mình, không bỏ thầu, không cộng tác với người La Mã bóc lột dân chúng. Chí ít ông ăn ở công bình, không vơ vét, bằng lòng với số lương chính đáng. Nhưng thánh Luca lại nói ông là người giàu có, chứng cớ quá hiển nhiên, không thể chối cãi. Tuy nhiên khi câu chuyện kết thúc, Giakêu thay đổi hoàn toàn, ông ta là người ngược hẳn với lúc khởi đầu. Sau khi đối diện với Chúa Giêsu ông biến thành người Israel đích thật, là dòng giống Abraham đầy lòng tin, đúng như Chúa Giêsu tuyên bố, Ông sẵn sàng chia sẻ một nửa gia tài cho người nghèo khó, đền gấp bốn những thiệt hại ông đã gây nên. Luật Môsê không buộc phải đi xa đến như vậy. Tội gian lận theo như Lêvi ký, chỉ phải đền 1/5 tài sản thiệt hại (5,24). Giakêu lúc này đã trở thành con người lương thiện. Hậu quả, dĩ nhiên không thuộc về công nghiệp của ông mà là lòng thương xót rộng rãi của Ðức Chúa Trời, tha thứ cho ông. Ðây cũng là kinh nghiện của mỗi linh hồn trở lại. Họ sống tốt lành để đền bù ơn Chúa. Nếu không chẳng có dấu chỉ nào chứng minh chúng ta đã trở lại. Chúng ta vẫn sống trong ảo tưởng về đạo đức riêng của mình, chứ không phải là sự thánh thiện Phúc âm, như tuần vừa qua Chúa Giêsu chỉ rõ. Tin Mừng không nói cho độc giả hay tâm trạng ông Giakêu thế nào trước khi ông ra đi đón gặp Ðức Giêsu. Có lẽ ông bị thúc đẩy bởi phép lạ Chúa Giêsu chữa lành cho người mù ăn xin ở cổng thành Giêrikhô vừa xảy ra trước đó ít lâu. Ông tò mò muốn biết Chúa Giêsu là ai? Hoặc ông bị lương tâm cắn rứt, muốn thay đổi cuộc sống. Ông đã gian lận quá nhiều, bị cộng đồng khu phố khinh miệt. Hoặc giả con cái ông bị hàng xóm láng giềng tẩy chay, không được chơi chung với con cái họ. Gia đình ông bị lăng nhục vì nghề nghiệp bẩn thỉu. Liệu thời thế đã chín mùi để ông thay đổi nếp sống? Chúng ta chẳng có phương cách nào để biết rõ sự thật, bởi vì Phúc âm không nói . Mọi sự chỉ là phỏng đoán mà thôi. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn ông muốn tìm hiểu Chúa Giêsu là người như thế nào? Phúc âm kể: "Ở thành Giêrikhô có một người tên là Giakêu, ông đứng đầu những người thu thuế và là người giàu có. Ông muốn tìm cách để xem Ðức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông mà ông ta lại lùn. Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Ðức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó. Ðức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: "Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông". Như vậy ý định của Giakêu là được ngắm nhìn một nhân vật nổi tiếng! Còn những sự kiện khác chúng ta chẳng hề hay. Ví dụ: Cơ hội để xem một người cùi hủi khác được chữa lành, người mù được mở mắt cho trông thấy, đám đông được nuôi nấng cách lạ lùng, kẻ chết sống lại... Chúng ta chỉ được biết như thánh Luca muốn cho cho hay. Và đó là dụng ý của thánh nhân khi viết Tin Mừng. Tình trạng tâm hồn của Giakêu không được tỏ lộ. Chỉ biết rằng ông là người thu thuế mướn cho chính quyền bảo hộ, là kẻ tội lỗi công khai, được xếp chung với bọn đĩ điếm và bị khinh bỉ. Công việc bỉ ổi của ông ai cũng biết, không phải thầm kín. Ðến đây, thánh nhân cho hay vế thứ hai của câu chuyện, Chúa Giêsu hay làm bạn với hạng người này, chè chén với họ. Cho nên giới lãnh đạo đền thờ không mấy có cảm tình. Nhiều lần Ngài đã bị họ phê bình, chỉ trích, nhất là những người tự coi mình thanh sạch, đạo đức như Biệt phái, ký lục, kinh sư... Trước mắt họ xem ra Chúa Giêsu là một tên vô lại, không có hy vọng cải thiện, hay lui tới nhà người tội lỗi. Lần này là ông Giakêu, khét tiếng bóc lột. Ngài gọi ông xuống khỏi cây sung và đề nghị dùng bữa tại nhà ông. Sự thực, thánh Luca thuật: "Chúa Giêsu đi đến chỗ ấy, thì nhìn lên và nói với ông: Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay ta phải ở lại nhà ông". Tại sao Chúa Giêsu phải trú lại nhà Giakêu ? Bài đọc 1 cho chúng ta câu trả lời. Thiên Chúa toàn năng, Ðấng tạo dựng vũ trụ, hằng quan tâm đến mọi loài, đến từng cá thể, từng mỗi linh hồn. Ðó là sự quan phòng riêng biệt chứ không phải chung chung trên các sự vật Ngài đã tạo thành: "Lạy Chúa, trước Thánh Nhan, toàn thể vũ trụ ví tựa hạt cát trên bàn cân, tựa hạt sương mai rơi trên mặt đất". Nghĩa là từng chi tiết trong hoàn vũ, đặc biệt Ngài thương cảm những sinh vật có hơi thở, nhất là loài người. Ngài chăm lo cho chúng tốt tươi, hạnh phúc: "Quả thế, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã dựng nên, và giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên". Tình yêu ấy được cụ thể hoá nơi Ðức Giêsu Kitô, Thiên Chúa biến thành nhục thể, chăm lo cho mọi linh hồn được ơn cứu rỗi. Vì vậy khi Ðức Giêsu bước đi trên đường phố Giêrikhô hôm đó, Ngài đã thực hiện công việc của Ðức Chúa Trời và biểu lộ lòng thương yêu của Thiên Chúa luôn tưới gội trên con người. Quyền năng của Ngài là để phục vụ lòng hiền từ nhân ái của mình chứ không phải ra án phạt, tuy rằng án phạt vẫn là mặt khác của quyền bính cai trị. Ông Giakêu trèo lên cây sung để tìm kiếm Thiên Chúa, xem Ngài là ai ? Nhưng thực chất Chúa Giêsu đang kiếm tìm ông để cứu vớt ông. Ngài nhìn thấy ông, truyền cho ông bườc xuống và đề nghị ăn bữa tại nhà ông. Trường hợp này giống như Chúa Giêsu tìm kiếm Nathanael (tức tông đồ Bartôlômêô) dưới cây vả (Ga 1,48). Chúa Giêsu thấu suốt mọi tâm can, không chi có thể dấu được cái nhìn của Ngài. Vượt qua sự tò mò của Giakêu, Chúa Giêsu còn thấy rõ linh hồn ông. Ngài đã bày tỏ lòng yêu mến của Thiên Chúa cho ông, bởi rõ ràng ông là con chiên lạc, đáng được mang về đàn. Ðám đông xì xào bàn tán: "Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ". Chúa Giêsu trả lời: "Con người đến để tìm và cứu những gì đã mất". Rõ ràng đó là cách thức Thiên Chúa bày tỏ quyền năng, ngược hẳn với quyền bính thế gian và cũng khác với sức tưởng tượng của chúng ta. Nhân từ, thương xót là lúc Chúa biểu lộ uy quyền hơn cả. Sách Khôn ngoan và Tin mừng hôm nay đều đồng ý như vậy: "Lạy Ðức Chúa, sinh khí bất diệt của Ngài ở trong muôn loài, muôn vật. Vì thế, những ai sa ngã, Chúa sửa dạy từ từ". Thần khí bất diệt cũng ở trong ông Giakêu tội lỗi và Chúa Giêsu đã cho chúng ta hay, Thiên Chúa đối xử ra sao với những kẻ lầm đường, lạc lối. Ngài đã xót thương , tỏ lòng nhân từ đối với ông. Ông đã đứng dậy, thật lòng hối cải, ăn năn, thay đổi cuộc sống. Con mắt yêu thương hằng theo dõi Giakêu vì ông là thụ tạo của bàn tay Ngài dựng nên. Ngài không để mất một linh hồn nào trên cõi dương gian. Cho nên đừng vì thân xác lùn thấp và hành động kỳ quặc của ông mà cho ông như một người đãng trí, nực cười. Ðiều này có thể làm cho cuộc trở lại của ông không thành thực. Ông đã là người tội lỗi, vơ vét tài sản trên lưng đồng bào nghèo khó. Ðức Kitô đã phát hiện ra ông và ông đã đón tiếp Ngài vào nhà mình, tức cuộc đời mình. Ông đã mời Chúa dùng bữa với toàn thể gia đình, bữa tiệc bày tỏ tình bạn hữu chân thành. Mặc nhiên gia đình ông trở nên thân thiết với Chúa Giêsu. Vì thế Chúa tuyên bố: "Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham". Phần Chúa Giêsu, tình thương của Ngài cũng vươn tới gia đình Giakêu rõ ràng. Ngài không để mất thời giờ, vội vàng phán bảo ông: "Xuống mau đi, vì hôm nay ta phải ở lại nhà ông". Bổn phận của Ngài là cứu chữa linh hồn Giakêu, tội lỗi đầy mình. Tuy nhiên giữa Chúa Giêsu và Giakêu, ai là chủ, ai là khách? Thường tình Giakêu là chủ, nhưng thái độ tích cực của Chúa Giêsu chứng tỏ Giakêu là khách, Ngài là chủ. Bởi lẽ Ngài tìm kiếm và kêu gọi Giakêu. Ngài chủ động trong hoàn cảnh này, mặc dầu ngôi nhà là của Giakêu. Ngài đã mời Giakêu dự tiệc ngay trong nhà ông. Một điều hết sức gây ngạc nhiên cho người Biệt phái vì họ chẳng thể hiểu được tâm ý của Chúa Giêsu. Chúng ta xây dựng thánh đường, thấp hèn hay nguy nga tráng lệ, chúng ta họp nhau thờ phượng Ngài tại đó. Chúng ta mang bánh rượu dâng tiến Ngài trên bàn thờ. Nhưng xin nhớ chúng ta chỉ là khách được mời. Còn chính Chúa Giêsu mới là chủ sự bữa tiệc. Thiên Chúa đã dọn tiệc cho chúng ta trong Ðức Giêsu Kitô. Ngài đã tìm kiếm và kêu mời nhân loại vào bàn tiệc. Cho nên chúng ta phải có tâm tình thống hối, tạ ơn giống như ông Giakêu. Sau đó đến lượt mình, chúng ta cũng phải ra đi, tìm kiếm và kêu mời những kẻ còn bên lề ơn cứu rỗi. Họ là ai? Có thể là cha mẹ, anh em, bà con, láng giềng, hay những kẻ tha hương lữ thứ, hoặc xì ke, ma tuý, đĩ điếm, cướp giật, lừa đảo, buôn gian bán lận. Những người mà Chúa Giêsu "phải ở trong nhà họ"? Amen. GẶP GỠ ĐỨC KITÔ Lm. Bùi Quang Tuấn, C.Ss.R. Cách đây không lâu, trên trang “Tuổi Biết Buồn”, đăng trong Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tôi có đọc được đôi dòng tâm sự như sau: “Em năm nay 21 tuổi. Sang Mỹ được 3 năm. Năm đầu sống rất vui vẻ hồn nhiên, không buồn phiền gì về vấn đề tình cảm. Năm thứ hai thì con tim bắt đầu lúc lắc. Năm thứ ba em bắt đầu yêu thật. Em đã quen một anh tên A. Lúc đầu chỉ coi anh là anh trai, nhưng tình cảm len lỏi vào tim lúc nào không biết. Anh lo cho em từng li từng tí. Càng ngày em càng cảm thấy mến anh. Nhưng có điều anh hơn em đến cả 18 tuổi. Lấy anh thì cũng được, nhưng em lại sợ cái cảnh “cha già con mọn”. Thế rồi em lại quen một anh khác tên B. Anh này thương em, cũng lo lắng cho em. Hơn em chừng 7, 8 tuổi. Nhưng có điều cũng khó nghĩ vì B lại thấp hơn em, lại không có đạo nữa. Không trở lại, bố em không chấp nhận là cái chắc. Không lớn hơn vài ‘inches’ nữa thì tương lai của em sẽ không biết giầy, guốc cao gót là gì…” Đọc qua tâm sự đó, tôi chợt nhớ đến hình ảnh của một người rất thấp trong Phúc âm: Giakêu, một ty trưởng quan thuế tại thành phố Giêricô, nằm cách Giêrusalem 15 dặm về hướng đông bắc. Giakêu không những được mô tả như một người thiếu thước tấc về thể xác, nhưng còn là kẻ quá thấp bé về tâm hồn dưới cái nhìn của người Do thái. Không “thấp” lắm sao khi cấu kết với ngoại bang Rôma để vơ vét tài sản của dân tộc, đất nước! Không “bé” lắm sao khi đi làm giàu trên bao mồ hôi xương máu của những người lầm than khốn khổ! Từ xưa đến nay, chẳng mấy ai ưa thích chuyện thuế má. Người Do thái lại càng chán ghét chế độ sưu thuế do chính sách đô hộ Rôma áp đặt. Số là tại các thuộc địa, để không phải trực tiếp bóc lột, chính quyền cai trị Rôma thường cho đấu thầu việc thu thuế tại từng khu vực. Tất nhiên chỉ có kẻ giàu mới có khả năng và mới có cơ may trúng thầu. Khi trúng, họ có quyền qui định mặt hàng cũng như giá thuế phải đóng. Lắm khi người trúng thầu phải ra giá thật cao để gỡ vốn. Và không ít khi cao thêm tí nữa để có lời. Thế nên, dân Do thái tự động xem hạng thu thuế là phường bán rẻ lương tâm, phá nước hại dân, làm giàu bất chính. Người ta tránh xa như gặp phải những con vật dơ nhớp, nguy hiểm. Thậm chí còn coi họ như quân ngoại đạo và tội lỗi. Thành ra con người Giakêu hẳn là quá thấp bé trong tầm nhìn luân lý của những kẻ “đang bị bóc lột”. Đã vậy vóc dạng của ông cũng chẳng cao ráo sáng sủa gì. Lùn quá! Có nhón gót cũng chẳng thấy Đức Giêsu đâu. Đám đông che mất tầm nhìn của ông. Mặt khác, danh xưng của ông còn khơi lên ý tưởng mỉa mai châm biếm khi nó tương phản với công luận. Giakêu là phiên âm từ chữ “Zakkay”, trong tiếng Do thái có nghĩa là “người công chính” hay “người thanh khiết”. Gọi một kẻ tội lỗi, nhơ uế là “công chính” và “thanh khiết”, nếu không phải là chế giễu và khinh bỉ thì là gì? Nhưng dù thân xác và tinh thần có bị bao quanh bằng những hàng rào của mặc cảm tự ti, hay sự khinh thường ghét bỏ của dân chúng, lòng khát mong gặp Đức Giêsu đã như tác động đầu tiên đưa đến biến đổi và thăng hoa con người. Ước ao nhìn mặt Đức Giêsu, đó là sự tò mò tự nhiên hay lời mời gọi của tình thương? Cứ tưởng tượng Giakêu xắn chiếc áo rộng thùng thình của một bậc trưởng gia để leo lên cây sung như một đứa con nít cũng đủ thấy đó là một khát khao vượt tính tự nhiên rồi. Phải chăng khi bị mọi người tránh xa, khi nghe đồn Đức Giêsu hay đến làm bạn với những kẻ không được thương yêu, trong ông đã hình thành nỗi niềm đi tìm yêu thương vỗ về. Lòng khát khao mãnh liệt làm cho lòng Giakêu “cao lên” so với bao người chen chúc trong đám đông hiếu kỳ. Ông muốn nhìn Chúa, nhưng đúng hơn, Chúa lại muốn tìm ông. Khi vừa đến chỗ cây sung có Giakêu đang trèo trên đó, Đức Giêsu “nhìn lên và trông thấy ông”. Giả như không có ánh mắt nhìn lên đó thì chuyện gì sẽ sảy ra? Có lẽ Giakêu cũng tuột xuống ra về trong âm thầm. Cái nhìn của Chúa làm biến đổi cuộc đời. Nhìn và thấy diễn tả một sự chú ý kiếm tìm. Nhìn vào bao con người chen chúc chung quanh, với đủ mọi thành phần, trình độ, sang hèn, tuổi tác, nhưng Đức Giêsu lại chỉ thấy có một tâm hồn mà Ngài đang muốn tìm về. Niềm vui rạng rỡ đã bật thành lời: “Hỡi Giakêu hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi” (Lc 19:5). Ngài đã tìm thấy “con chiên lạc” đang vướng trên cành, và lòng Ngài ngập tràn hân hoan. Một nhà chú giải suy niệm: “Ôi chao! Ngày hôm đó, chắc là Đức Giêsu phải sung sướng hạnh phúc lắm! Còn vài cây số nữa là đến Giêrusalem. Còn vài ngày nữa là cuộc khổ nạn được dâng hiến để cứu chuộc con người. Mọi nỗi đơn độc chơ vơ của thập giá, mọi hình khổ Ngài sẽ gánh chịu, mọi vết thương xé nát bàn tay và đôi chân đẫm máu sẽ mang lại ơn ích cho nhân loại. Ngài biết điều đó. Ngài đã cứu thế gian khi tiến lên Giêrusalem. Và Giakêu là hoa trái đầu mùa” (Noel Quesson). Con tim cháy lửa yêu thương đã tìm gặp được tâm hồn khao khát thương yêu. Và thương yêu đã biến đổi phận người! Đúng là “gặp gỡ Đức Kitô, biến đổi cuộc đời mình…Gặp gỡ Đức Kitô, nảy sinh tình đệ huynh”. Tình huynh đệ nảy sinh khi Giakêu tự nguyện “Bố thí nửa phần gia tài cho người khổ đau”. Tình đệ huynh lại được hàn gắn khi Giakêu can đảm “đền trả gấp bốn cho người bị ông làm thiệt hại”. Không gặp được Đức Kitô chẳng ai có đủ sức đền bù, chia sẻ, hay trao ban. Không có tình thương sưởi ấm chắc chắn chẳng ai có thể đổi đời. Nhưng khi có tình Chúa chiếu soi, người ta sẽ “cao lên” trong tình người. Và như thế, không ai có quyền kỳ thị hay gạt bỏ, vì họ cũng là “con cái của Abraham”. Không ai được phép xem họ như người ngoại hay kẻ lầm lạc, vì họ cũng là môn đệ của Tình Yêu Thiên Chúa. Trở lại với lời tâm sự ban đầu. Thiết tưởng cao to thân xác mà thấp bé cõi lòng thì ăn thua gì. Mang danh có đạo mà không bác ái hy sinh thì cũng thiếu xót lắm thay. Thế nên, việc cần thiết nhất không phải là cao lùn, mập ốm, rửa tội hay chưa, nhưng là có được tình yêu đúng nghĩa chiếm ngự tâm hồn hay không. Tình yêu đúng nghĩa chỉ có khi được Đức Giêsu lưu lại trong đời. Và như Lệ Vũ, người phụ trách “Tuổi Biết Buồn” xác quyết: “Tìm được tình yêu và yêu thật lòng, ba cái chuyện cao gầy, lùn mập, miệng méo, mắt Sài gòn, mắt Chợ lớn, sẽ không thành vấn đề quan trọng”. Xin tình yêu của Đức Kitô gặp gỡi đờ con và đời người.Amen. ĐỨC GIÊSU LUÔN THẤY KẺ TÌM KIẾM NGƯỜI , VÀ NGƯỜI ĐI BƯỚC TRƯỚC. Lm. Jude Siciliano, OP (Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Gò Vấp) Điều gì đã khiến chúng ta khựng lại ? Gần đây ở Raleigh, nơi tôi sống, một đại lý xe hơi bắt đầu bán loại xe Maserati. Giá khởi điểm cho mỗi xe là 100.000 Mỹ kim – hoặc hơn nếu như quý vị muốn thêm những phụ kiện. Tờ báo địa phương có đăng tải bức ảnh của một trong những chiếc xe hơi đắt tiền, bóng bảy màu đỏ này. Giả như một chiếc Maserati chạy xuống đường phố của quý vị, liệu hình ảnh đó có khiến cho những khách bộ hành khựng lại dòng suy nghĩ của mình hay không. Có phải nó bắt mắt không? Gần đây, tôi đi cùng với chị tôi ngang qua một cửa hàng. Tôi thấy một cậu bé hai tuổi đang bám lấy áo khoác của mẹ. Thấy thế, chị tôi dừng lại, reo lên “Ôi, dễ thương quá đi thôi!”Rồi chị khen bà mẹ đó. Ngay cả lúc chúng ta đang vội vã thì một vài thứ cũng tóm lấy chúng ta và khiến chúng ta khựng lại. Bài Tin mừng hôm nay nói với chúng ta rằng đức Giêsu “cố ý” đi ngang qua Giêricô. Nhưng Ngài dừng lại. Không phải vì một cỗ sa mã nhanh nhất và hiện đại nhất chạy ngang qua. Cũng chẳng phải vì một cậu bé hai tuổi cực kỳ dễ thương đã gọi Ngài – dù có Ngài dừng lại vì điều đó. Nhưng là một vị trí ngớ ngẩn của một người trưởng thành, một người lớn giàu có, đang ở trên một cây sung – tất cả chỉ có thế! Những người khác cũng bận tâm đến hình ảnh của Giakêu ở trên cây. Có lẽ họ đã nhìn lên ông đầy khinh bỉ. Dân chúng trong vùng chắc là chẳng ưa gì ông – ông “đứng đầu những người thu thuế”. Những người thu thuế là người Dothái nhưng lại đi thu thuế cho người Rôma. Họ biết rõ hoàn cảnh địa phương nên biết cánh đồng nào thu hoạch được nhiều, và dân chúng có bao nhiêu chiên, dê. Họ biết làm thế nào để tận thu từng đồng Seken (tiền của người Dothái)- tất cả để phục vụ cho quân đội, cho sự đàn áp của Rôma và để tiế tục đô hộ những người láng giềng Dothái của họ. Thế nên, người dân trong vùng đã chẳng thích Giakêu một tí nào, và người ta có thể không ngần ngại chỉ vào Giakêu ở Hội đường và nói toặc ra với nhau rằng “Hãy nhìn tên thu thuế này, và tất cả tiền bạc của hắn ta, và hắn đang hành xử như một tên ngốc”. Nhưng khi đức Giêsu nhìn thấy Giakêu, Ngài đã dừng lại. Ngài có lẽ đã nhìn thấy người đàn ông giàu có ăn mặc đẹp. Ngài có thể nhìn thấy một kẻ phản bội dân tộc của Ngài. Dĩ nhiên, Ngài nhìn thấy những gì láng giềng của ông ta nhìn thấy – người đàn ông đó đang cử xử như một tên ngốc. Tại sao Giakêu lại làm hành vi ngờ nghệch như vậy nơi công cộng? Kinh thánh nói ông đang: “tìm cách để xem Đức Giêsu là ai.” Đó là điều khiến Đức Giêsu dừng lại. Giakêu là một người tìm kiếm; ông bước ra ngoài để tìm gặp Đức Giêsu. Có lẽ Giakêu muốn thấy liệu Đức Giêsu có thứ mà ông đang tìm kiếm hay không. Đó có thể là gì? Có phải ông đã chán ngấy lối sống của ông? Có phải ông chán dù có nhiều tiền của và tất cả mọi thứ đều được cung cấp nhưng vì khi ông có mọi thứ ông muốn thì ông lại không thể có thứ ông cần – một cuộc sống chân thật. Ông cũng không được bà con láng giềng tôn trọng. Phải chăng gia đình ông cũng bị tẩy chay? - “Có vợ và các con của người thu thuế không tốt đó.” Ông ta biết mình làm giàu trên công sức của những người láng giềng. Ông ta cũng biết mình đã quay lưng lại với Đức Chúa, vì ông đã giúp đỡ ủng hộ người ngoại bang. Ông “đứng đầu những người thu thuế” như thánh Luca cho chúng ta biết. Ông có rất nhiều vàng bạc trong túi nhưng lại chẳng có một tẹo Thánh Thần. Vì thế, chúng ta thấy ông chạy ra ngoài để cố gắng gặp đức Giêsu. Ý định của Giakêu có thể không hoàn hảo. Chúng ta cũng không nhất định phải hoàn hảo để được Thiên Chúa chú ý hay quan tâm. Có phải chính cuộc sống bất tiện của ông đã đưa ông ra bên ngoài ngày hôm ấy? Có lẽ đức Giêsu đã thấy sự bất mãn hay khốn khổ trên gương mặt Giakêu. Có phải có cả sự tò mò trong đó nữa? Và Đức Giêsu có lẽ cũng thấy sự căm thù và khinh bỉ trên nét mặt của những người hàng xóm của Giakêu. Trong khi ông ta không phải là mẫu người cần được tha thứ (vì Ngài chẳng gọi ông ta ra để nhận sự tha thứ), tuy nhiên Đức Giêsu đã dừng lại và tác động đến ông ta, Ngài tự mình vào nhà kẻ tội lỗi. Điều gì khiến cho dân chúng thấy buồn vì Đức Giêsu vào trong nhà của Giakêu? Bởi vì trong thế giới Trung Đông của Đức Giêsu, bước vào nhà một người, “bẻ bánh” cùng với họ, là bước vào một không gian linh thánh và riêng tư. Ngay cả nhà của một kẻ nghèo cũng là nơi thánh. Kẻ thù không được phép vào. Bước vào trong nhà, như Đức Giêsu làm, là trở nên thành viên của gia đình đó. Nếu kẻ thù được mời vào trong nhà để bẻ bánh, dùng bữa, thì đó được xem như hành động hòa giải. Nghĩa là, quá khứ được bỏ qua, và tương quan mới được dựng nên. Thánh Thể đến từ truyền thống Trung Đông, nơi đó khi kẻ thù ăn uống cùng nhau thì được hòa giải. Đó là điều mà chúng ta cần nghĩ đến trong mỗi thánh lễ chúng ta tham dự. Ai là người chia sẻ cùng một bữa tiệc với chúng ta? Nhìn xung quanh, đón nhận, và hành động trong sự hòa giải với những gì đang xảy ra. Đức Giêsu nhìn thấy kẻ tìm kiếm và đã đi bước trước. Ngài chẳng quan tâm xem Giakêu đã tự chuẩn bị nhiều như thế nào. Ngài cũng chẳng cần ông phải công khai bày tỏ đức tin, hay “ăn năn cách trọn”. Đức Giêsu lấp đầy chỗ trống và chỗ thiếu và bước vào nhà ông Giakêu cũng như chính cuộc đời của ông. Đức Giêsu bảo Giakêu: “hôm nay ơn cứu độ đã đến nhà này”. Tất cả mọi người trong gia đình đều được hưởng ơn phúc khi mà chỉ mình người này mời Đức Giêsu vào cuộc đời ông. Chúng ta biết đến kinh nghiệm như thế khi mà một người có đức tin trong gia đình có ảnh hưởng đến tất cả những người khác xung quanh họ…khi mà một người tin thì phúc lành đổ xuống cho tất cả mọi người sống dưới cùng một mái nhà đó. Giakêu không hoàn hảo, ông ta cũng bất tất, linh tinh và chưa đâu vào đâu. Thế mà Thần Khí của Đức Chúa đã đánh động ông để hôm ấy ông rời nhà mình và trở thành kẻ tìm kiếm. Ông ta nghĩ mình sẽ nhìn Đức Giêsu bằng cặp mắt thể lý của mình. Nhưng việc xảy ra cho ông còn nhiều hơn thế: khi Đức Giêsu nhìn thấy Giakêu, Ngài khựng lại và đón nhận ông như chính ông, rồi bước vào cuộc đời của ông và cuộc sống của gia đình ông. Giống như Giakêu, tất cả chúng ta cũng được Thánh Thần thúc đẩy. Thực ra, sự thúc đẩy này bắt đầu ngay từ khi chúng ta được rửa tội, khi chúng ta được thanh tẩy để bước vào cuộc sống thần linh. Và chúng ta được tác động luôn mãi. Được tác động khi chúng ta gặp một người cần chúng ta giúp, hay cần chúng ta chia sẻ, lắng nghe. Được thúc đầy khi chúng ta thức dậy vào buổi sáng mùa đông và vẫn cố gắng đến nhà thờ. Được thúc đẩy khi chúng ta đứng lên bảo vệ cho những người áp bức hay bị bỏ rơi. Được Thánh Thần thúc đẩy khi chúng ta tình nguyện đến nhà thờ để “giúp một chút xíu” và điều đó biến thành rất nhiều – và chúng ta thích làm thế! Được thúc đẩy khi chúng ta cần sức mạnh để vượt qua những thử thách và đau khổ. Được thúc đẩy để phá vỡ những thói quen mà dường như chúng ta cảm thấy không thể thay đổi, và chúng ta đã làm được. Còn những cách khác mà chúng ta kinh nghiệm được sự thúc đẩy của Thánh Thần. Chúng ta nhận ra rằng tinh thần của chúng ta đang đói và chúng ta bắt đầu tìm kiếm thức ăn. Có lẽ chúng ta tham dự tĩnh tâm cuối tuần; đọc sách thiêng liêng do một người bạn đề nghị; nói đến linh hướng, đặt mua báo về đời sống thiêng liêng; tìm kiếm trên Internet những chủ đề về cầu nguyện, … Khi chúng ta đáp lại những thúc đẩy như thế, chúng ta giống như Giakêu, người đã trèo lên trên cây. Chúng ta trở thành kẻ tìm kiếm và nóng lòng muốn lấp đầy cơn đói khát bên trong chúng ta. Chúng ta nhận ra mình đang ở khúc ngoặt của cuộc đời mình và muốn nhìn thấy Đức Giêsu. Nhưng lại giống như Giakêu, khi chúng ta còn đang tìm kiếm Đức Giêsu thì Ngài đã dừng lại vì chúng ta rồi. Ngài luôn nhìn thấy chúng ta, dù chúng ta còn lâu mới hoàn hảo và còn bất toàn, linh tinh, điên cuồng hay tội lỗi. Ngài biết chúng ta đang tìm kiếm và Ngài đáp lại chúng ta, với chính con người của chúng ta. Ngài muốn vào nhà chúng ta, như vào nhà ông Giakêu, theo cách đầy ngạc nhiên và mới mẻ. Và chúng ta cũng muốn những gì xảy ra cho Giakêu thì cũng xảy đến cho chúng ta: là cả gia đình chúng ta đều được chúc phúc: bỏ qua một bên quá khứ đau buồn, mọi thành viên trong nhà được hòa giải và trái tim bao dung hơn với nhau. Có một khoảnh khắc trong câu chuyện của Giakêu khi quý vị chứng kiến việc trao đổi ánh mắt giữa ông Giakêu với Đức Giêsu. Cái nhìn trao đổi đó cũng xảy mỗi khoảnh khắc trong mọi ngày của chúng ta. Chúng ta sẽ làm gì khi cảm nghiệm ánh mắt của Ngài nhìn chúng ta. Chúng ta có đang tìm kiếm Ngài không? Tại sao chúng ta lại không nói với Đức Giêsu như cách chúng ta mời khách vào nhà chúng ta… “Xin mời vào. Hãy cứ tự nhiên như ở nhà. Rất vui được gặp anh/chị”.Amen. Mời các bạn cùng cầu nguyện với 3 phút Thánh vịnh

Thứ Năm, 28 tháng 10, 2010

Nghe audio truyện: "Ỷ Thiên Đồ Long ký" của Kim Dung



Ỷ Thiên Đồ Long ký (còn được dịch ra tiếng Việt là Cô gái Đồ Long) là một tiểu thuyết võ hiệp của nhà văn Kim Dung. Đây là cuốn cuối cùng trong bộ tiểu thuyết Xạ điêu tam khúc. Tiểu thuyết được xuất bản lần đầu năm 1961 tại Hồng Kông, Trung Quốc bởi Hương Cảng Thương báo và sau đó bản tiếng Việt đã được xuất bản tại Việt Nam bởi Nhà xuất bản Văn học .

Câu chuyện xoay quanh truyền thuyết về Đồ Long đao và Ỷ Thiên kiếm là hai báu vật trong võ lâm, nếu ai nắm được cả hai thứ đó sẽ hiệu triệu được thiên hạ:

Võ lâm chí tôn
Bảo đao Đồ Long
Hiệu lệnh thiên hạ
Mạc cảm bất tòng
Ỷ Thiên bất xuất
Thùy mã tranh phong


(Tạm dịch: Trong võ lâm chí tôn, đao báu Đồ Long là hiệu lệnh của thiên hạ, không ai là không theo. Nếu kiếm Ỷ Thiên không xuất hiện (thì) lấy gì cùng nó (Đồ Long) tranh phong?)

Kiếm Ỷ Thiên là thanh kiếm được Quách Tĩnh và Hoàng Dung rèn thành cùng với Đồ Long đao. Trong kiếm Ỷ Thiên được Quách Tĩnh và Hoàng Dung cất giấu bí mật là pho võ công thượng đẳng Cửu Âm Chân Kinh. Bộ Võ Mục Di Thư được giấu trong Đồ Long đao, nhờ đó mà đánh thắng quân Nguyên. Kiếm sắc bén vô cùng không vũ khí nào so bì được. Vì thế giang hồ có câu "Ỷ Thiên bất xuất, thùy mã tranh phong". Cây kiếm về sau được lưu truyền bởi Quách Tương, người sáng lập ra phái Nga Mi và truyền nhiều đời cho chưởng môn của giáo phái.

Các phái võ lâm ra sức truy lùng hai báu vật này, bất chấp thủ đoạn. Thành Côn - một đệ tử giả mạo của phái Thiếu Lâm ra tay sát hại cả gia đình Tạ Tốn dẫn đến việc giang hồ trở nên đầy sóng gió.

Nhân vật chính trong truyện là Trương Vô Kỵ, con của một đệ tử phái Võ Đang, nhưng bị mồ côi cả cha lẫn mẹ, lại bị Huyền Minh nhị lão hạ độc. Cậu được tổ sư phái Võ Đang Trương Tam Phong đem gửi vào Thiếu Lâm tự để chữa trị, nuôi dưỡng.

Với bản tính kiên nhẫn, thật thà chất phác, Trương Vô Kỵ học được y thuật cao siêu, lấy được pho Cửu Dương chân kinh quí giá và giải trừ được âm độc, may mắn học được Càn khôn đại nã di tâm pháp nên thống lĩnh được võ lâm. Ngoài ra còn học được Thất thương quyền của Tạ Tốn, Thái cực quyền và Thái cực kiếm của Trương Tam Phong, võ công ghi trên Thánh Hỏa Lệnh của Ba Tư, trở thành một trong những nhân vật võ công cao cường bậc nhất trong truyện đồng thời dùng võ công siêu phàm của mình hóa giải trận quyết chiến võ lâm trên đỉnh Quang Minh và trở thành giáo chủ Minh giáo. Tuy nhiên trong tình cảm, chàng lại do dự mãi giữa tình yêu của quận chúa Mông Cổ Triệu Mẫn và chưởng môn phái Nga Mi Chu Chỉ Nhược...

Kết thúc câu chuyện, Trương Vô Kỵ khám phá ra Đồ Long Đao & Ỷ THiên Kiếm bị Chu Chỉ Nhược là người đã lấy được cả bảo đao, bảo kiếm và mình đã nghi oan cho Triệu Mẫn. Trương Vô Kỵ truyền cho Dương Tiêu chức giáo chủ Minh Giáo và cùng Triệu Mẫn đi chu du khắp thiên hạ, không màng đến chuyện đời nữa.

Các bạn xem truyện online tại đây hoặc các bạn có thể tải truyện "Ỷ Thiên Đồ Long Ký" và xem bằng MSReaderSetupUSA.exe qua các link sau:

_ Ỷ Thiên Đồ Long Ký (Phần 1)
_ Ỷ Thiên Đồ Long Ký (Phần 2)
_ Ỷ Thiên Đồ Long Ký (Phần 3)
_ Ỷ Thiên Đồ Long Ký (Phần 4)

Mời các bạn tải về hoặc nghe đọc truyện audio "Ỷ Thiên Đồ Long ký" bằng file m4b

1/ Ỷ Thiên Đồ Long Ký (P.1) tại đây

2/ Ỷ Thiên Đồ Long Ký (P.2) tại đây
3/ Ỷ Thiên Đồ Long Ký (P.3) tại đây
4/ Ỷ Thiên Đồ Long Ký (P.4) tại đây

Mời các bạn nghe truyện theo YouTube tại đây



Tải truyện về file mp3 theo MediaFire tại đây


Thứ Tư, 27 tháng 10, 2010

Phim và Audio: Cánh đồng bất tận - Nguyễn Ngọc Tư

Với nhiều độc giả, tác phẩm Cánh đồng bất tận đã trở thành cuốn sách gối đầu giường, có sức lay động ghê gớm đến suy nghĩ của con người trong thời buổi người ta vướng bận quá nhiều đến cơm áo gạo tiền. Và thật may cho những người yêu điện ảnh là bộ phim cùng tên cũng đã khiến người xem phải xúc động.


Cảnh trong phim

Tựa gốc: FLOATING LIVES
Đề tài: Tâm lý
Diễn viên: Dustin Nguyễn, Đỗ Hải Yến, Tăng Thanh Hà, Võ Thanh Hòa, Ninh Dương Lan Ngọc
Đạo diễn: Nguyễn Phan Quang Bình
Biên kịch: Ngụy Ngữ - Nguyễn Hồ
Trợ lý đạo diễn: Lý Thái Dũng
Quay phim: Nguyễn Tranh
Sản xuất : Hãng phim Việt và BHD
Nước sx: Việt Nam
Độ dài: 100 phút

Vô hình trung, trước khi ra rạp, bộ phim cùng tên của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình đón nhận được nhiều sự quan tâm từ những người yêu truyện của Nguyễn Ngọc Tư. Tôi cũng là một người trong số đó. Tôi hồi hộp chờ đợi ngày ra mắt bộ phim khi biết rằng ông đạo diễn này đã ấp ủ và theo đuổi dự án làm phim trong nhiều năm để đứa con tinh thần ra đời "vuông tròn khỏe mạnh". Là người yêu tác phẩm “Cánh đồng bất tận”, xin có đôi lời chia sẻ sau khi thưởng thức bộ phim.

Khung cảnh sông nước miền Tây quá sinh động và quá đẹp

Những nét đặc trưng, hoang dã của sông nước miền Tây đã được các nhà làm phim chắt lọc và đưa vào phim những hình ảnh đắt giá: cảnh họp chợ trên sông, cảnh rước dâu trên sông, cảnh cánh đồng lúa vàng chạy dài bất tận đẹp mê hồn…, thật vô cùng cuốn hút với những người như tôi, chưa một lần đặt chân đến miền đất bí hiểm ấy, cũng như làm thỏa mãn hơn trí tưởng tượng về khung cảnh lãng mạn của những người yêu tác phẩm.

Kết cấu phim chặt chẽ, nút thắt mở hợp lý

Bộ phim Cánh đồng bất tận mặc dù có chút đảo ngược về diễn biến câu chuyện so với tác phẩm nhưng tác giả kịch bản đã rất tỉnh tạo và có nghề tiếp thu triệt để kết cấu chung của truyện, vốn được coi là hơi thở tạo nên thành công tác phẩm. Chính vì vậy, người xem đều cảm nhận được nét buồn man mác bao trùm không gian bộ phim giống như trong không gian tác phẩm.

Những đứa trẻ (Nương và Điền) cam chịu sống trong sự hà khắc của người cha, xa lánh cộng đồng, không người quen, không bạn bè. Chúng khao khát được quan tâm chăm sóc, được yêu thương và những cảm xúc ấy dồn nén chỉ được bùng phát dữ dội khi chúng cứu cô gái giang hồ, hết lòng quý mến cô, coi cô như hình bóng trở lại của người mẹ mà chúng vẫn thầm mong nhớ. Nhưng rồi tia hy vọng ấy cũng chợt tắt khi cô gái điếm cũng bỏ chúng ra đi, cô không chịu được sự khinh mệt của ông Võ (cha hai đứa trẻ) về thân phận của mình. Cô có thể bỏ qua sự khinh miệt của người đời khi làm nghề "buôn hương bán phấn" nhưng cô không vượt qua được nỗi ê chề khi người đàn ông cô muốn hoàn lương gắn bó cuộc đời lại chỉ dành cho cô thái độ rẻ rúng như món hàng "bóc bánh trả tiền" ngoài chợ. Đứa con trai (Điền) bỏ đi sau khi cô gái điếm bỏ đi, hai bố con ông Võ tiếp tục cuộc đời du mục nay đây mai đó. Cao trào đã thực sự đẩy lên đỉnh điểm khi ông Võ phải chứng kiến nỗi đau đứa con gái bị làm nhục bởi đám thanh niên giang hồ. Đây là chi tiết đắt mà các nhà làm phim rất tinh tế chắt lọc từ tác phẩm để đưa vào phim, để thuyết phục người xem đến kết cục ông Võ đã thực sự thức tỉnh, cùng con gái xây dựng tổ ấm, định cư lâu dài trên một mảnh đất an bình, có xóm làng và tiếng trẻ bi bô gọi nhau đi học.

Phải thừa nhận là các nhà làm phim đã rất tôn trọng những nét hay nét đẹp của tác phẩm và nâng niu, thổi hồn thêm cho những chi tiết sáng giá ấy khiến chúng trở nên rực rỡ hơn trong phim. Rất nhiều câu thoại, hành động của nhân vật trong truyện được sử dụng trọn vẹn trong phim làm nổi bật rõ nét tính cách từng nhân vật. Cảnh Hai Sương tuy bị đánh bầm dập, nằm mê man đau đớn nhiều ngày nhưng khi tỉnh dậy được hai đứa trẻ hỏi lý do bị đánh vẫn tỉnh bơ trả lời: “bị đụng hàng ấy mà”, cho thấy tính cách gan lỳ, bình thản trước những va chạm, phức tạp, hiểm nguy luôn thường trực trong cuộc sống giang hồ của cô.

Điều thành công nữa phải kể đến là bộ phim đã thực sự gây xúc động cho người xem. Mặc dù đã đọc nhiều lần tác phẩm nhưng xem xong phim, tôi vẫn bị ám ảnh bởi số phận các nhân vật, vẫn cảm thấy thương cảm trước hoàn cảnh của họ. Đây là ghi nhận và sự trân trọng của cá nhân tôi với đoàn làm phim. Nhiều phim Việt Nam mặc dù dựa trên nguyên tác nổi tiếng nhưng xem phim lại thấy xa lạ như chưa hề biết đến tác phẩm, nội dung càng bi thì càng gây cười cho khán giả, lạm dụng cảnh nóng mà chẳng nổi bật thêm điều gì (cảnh nóng trong Cánh đồng bất tận rất thẩm mỹ và chừng mực, người xem dễ dàng chấp nhận vì nằm trong mạch chính của truyện phim). Đành rằng các nhà làm phim có quyền phóng tác sáng tạo đứa con tinh thần của mình nhưng nhiều sáng tạo càng làm càng thấy tối cả bộ phim. Vậy thì không làm hay hơn được thì hãy làm giống và hay như tác phẩm cũng là đáng khen ngợi rồi.

Diễn xuất đáng ngạc nhiên

Có lẽ phải còn lâu điện ảnh Việt Nam mới lại có được thế hệ vàng với diễn xuất tuyệt vời của cô Trà Giang, chú Lâm Tới, chú Thế Anh…trong những tác phẩm làm nên diện mạo rực rỡ của nền điện ảnh nước nhà giai đoạn trước. Tuy nhiên phải thực lòng thừa nhận, diễn xuất của các diễn viên trong phim cánh đồng bất tận rất thuyết phục, ghi nhận thái độ làm việc nghiêm túc, hy sinh hết mình vì nghệ thuật, trong khi điều này hiện nay các nghệ sỹ Việt Nam nói chung rất thiếu và yếu.

Tôi thích nhất diễn xuất của cô gái đóng vai Nương, diễn rất tự nhiên, diễn như không diễn, thể hiện đúng tâm lý của cô gái mới lớn, mau buồn, mau vui, mau nước mắt, hay nghĩ ngợi và tủi thân. Diễn xuất thành công của Nương đã góp phần đáng kể vào thành công của bộ phim, cô là linh hồn của bộ phim, dẫn dắt câu chuyện, khiến người xem buồn vui, đau đơn, hạnh phúc theo tâm trạng của cô. Vai diễn của Dustin Nguyễn (ông Võ) cũng là bước đột phá với chính anh. Nhiều cảnh anh khắc họa được đậm nét phong cách của người đàn ông miền Tây Nam Bộ nhưng tôi vẫn cảm giác anh hơi đuối khi thể hiện nội tâm nhân vật và có một hai phân đoạn, cách bố trí góc máy lại vô tình khắc họa chất võ trong anh nhiều hơn. Cũng có thể do tính cách anh không được tái hiện rõ nét vào thời điểm trước khi xảy ra biến cố vợ bỏ đi nên người xem thấy hơi thiếu thuyết phục và khiên cưỡng trước hình ảnh ông Võ lầm lỳ, ít nói, cố chấp, nhẫn tâm với con ở các trường đoạn sau này.


Cảnh trong phim

Với Đỗ Hải Yến, vai diễn Hai Sương không thể chê được, cô xử lý và tiết chế nội tâm nhân vật rất tốt, rất đời. Chỉ hơi tiếc là mạch phim đẩy đi quá nhanh, thiếu một hai tình tiết giúp Hai Sương thể hiện chuyển biến về tâm lý, từ ý định muốn từ bỏ cuộc sống giang hồ, đến ý định muốn yêu thương và gắn bó với gia đình ông Võ.

Ngẫm về cánh đồng cuộc đời

Bộ phim gây xúc động cho người xem và đọng lại chúng ta vài suy nghĩ.. Cuộc đời con người cũng giống như cánh đồng bất tận, cuộc đời bao la, rộng lớn, dòng chảy cuộc đời luôn bất tận, không ngừng nghỉ khiến con người luôn cảm thấy cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng. Nhưng nếu con người biết tha thứ và thấu hiểu nhau thì con người tự tạo cuộc sống tốt hơn rất nhiều. Nếu ông Võ có thể bỏ qua nỗi đau mà người vợ gây ra thì đã không dày vò, hành hạ hai đứa con mình, không gây thêm đau khổ cho những người phụ nữ khác.

Nếu ông đừng suy nghĩ cực đoan, sống xa lánh cộng đồng thì con gái ông không rơi vào cảnh ngộ bi thảm. Sự đổ vỡ trong lòng con người ta thật đáng sợ, nó hủy diệt mọi niềm vui cuộc sống khiến ông Võ mất đi cơ hội xây dựng lại tổ ấm gia đình cho các con mình. Hãy biết tha thứ và bỏ qua, đôi khi, người ta phải trả giá quá đắt để nhận ra điều đó. Chân lý đơn giản mà không hề đơn giản, chúng ta biết vậy mà nhiều khi không thể làm vậy.

Nhìn chung đây là tác phẩm điện ảnh đẹp từ nội dung đến hình ảnh, rất đáng xem và đáng trân trọng. Một bộ phim của người Việt Nam, chuyển thể từ tác phẩm của người Việt Nam mang đậm nét Việt Nam khiến chúng ta có thể tự hào về con người Việt Nam.

Mời xem phim "Cánh đồng bất tận" , xem qua YouTube tại đây






Mời xem truyện "Cánh đồng bất tận" tại đây  Nghe đọc audio truyện "Cánh đồng bất tận"

Thứ Ba, 26 tháng 10, 2010

Xem phim TQ : "Thần Điêu Hiệp Lữ" - 1995 (32 tập) hoặc 2006 (41 tập), 2014 (52 tập)



Trong các bài viết trước , Duy Duy đã đăng audio truyện Thần Điêu Hiệp Lữ , đã được các bạn nhiệt liệt hoan nghênh , tuy nhiên , do nguồn nhu liệu được dự trữ trên một số trang web miễn phí , có một số hạn chế về lượng truy cập và tải về máy , nên nguồn này hay bị quá tải , xảy ra tình trạng lúc nghe được trực tiếp , lúc không nghe được . Xin các bạn thông cảm .

Sau đây mời các bạn xem lại bộ phim Thần Điêu Hiệp Lữ năm 1995 gồm 32 tập .

Xem theo Playlist YouTobe tại đây



Mời xem lại phim Thần Điêu Đại Hiệp phiên bản khác theo Playlist YouTobe tại đây



Hoặc phiên bản 2006 tại đây



Hoặc phiên bản 2014 tại đây

Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2010

Lũ đến, lũ qua và lũ sẽ tới

Hai cơn lũ lớn đã hoành hành, cơn siêu bão Megi đang đi vào biển Đông tiếp tục đe dọa không chỉ các tỉnh Bắc Trung phần Việt Nam. Ở một đất nước mà thiên tai hàng năm gây thiệt hại triền miên, trước sức mạnh thiên nhiên gần như không thể đối phó thì liệu xã hội và cộng đồng còn có thể trông chờ gì? Vào thời điểm này, truyền thông Việt Nam hàng ngày vẫn kêu gọi đóng góp sẻ chia với người dân các tỉnh bị lũ tàn phá ở Quảng Bình, Hà Tĩnh… Và mỗi năm, suốt trong lịch sử đương đại Việt Nam luôn lập lại những lời kêu gọi cũng như luôn có những tấm lòng vàng sẵn sàng chia sẻ trong tinh thần "bầu ơi thương lấy bí cùng." Dẫu biết là nhân ái cao cả của dân tộc là không giới hạn, nhưng đã đến lúc cộng đồng phải đặt ra vấn đề là: Liệu cảm xúc nhân ái được giữ gìn và vun bồi ra sao khi mà cứ theo mùa thiên tai lũ lụt là đến "mùa" phát động cứu trợ. Cứ lập lại mãi như vậy mà không nghĩ đến những biện pháp hữu hiệu hơn để khắc phục thảm trạng và dự phòng đối phó trước thiên tai dịch họa mới. Những mong ước đơn giản ở vùng lũ Chúng tôi, vào mùa lũ năm trước có mặt ở vùng bị lũ nặng nhất ở tỉnh Phú Yên. Nơi chúng tôi đến là những căn nhà nằm ven triền núi, vậy mà ngấn nước lũ cao sát tới mái nhà. Một người dân đã chỉ cho chúng tôi thấy những căn gác tạm kê sát mái. Ông cho biết thường nhà nào ở đây cũng có kê gác, đó là kinh nghiệm truyền đời. Ông nói: "Vậy mà vẫn có người chết vì khi lũ về, nhất là người già và trẻ con không kịp đưa lên gác. Phải chi có áo phao thì khi nghe dự báo bão lũ là mặc cho người già với trẻ con hoặc có mấy cái ruột xe hơi kiểu con nít học bơi thì chắc là không đến nỗi chết chìm, có trôi đi thì cũng vớt kịp." Nhiều người đồng tình với người nông dân Phú Yên về cái áo phao và những cái ruột bánh xe của dân tắm biển, vì ít ra khi có những phương tiện tối thiểu đó nhiều dân nghèo vùng lũ cũng giữ được mạng sống. Trong những ngày này, hình ảnh đau lòng nhất mà nhiều người được chứng kiến là những cánh tay, những gương mặt của dân vùng lũ ló ra mái ngói kêu cứu và chờ được cứu. Liệu những người trong ảnh báo chí đó có được cứu kịp thời không và cả những người khác nữa mà ống kính phóng viên không thể nhìn thấy! Nếu họ có áo phao như những vị cán bộ cấp cao đi thăm dân vùng lũ, như những chiến sĩ đang cứu giúp dân thì chắc hy vọng sống của họ sẽ cao hơn. Từ những chiếc áo phao người ta lại nghĩ đến những chiếc xuồng phao. Nước lũ ngập nhà cửa tại Quảng Bình trong đợt lụt đầu tháng 10/2010 Thông tin cho biết rằng có những địa phương ở vùng cao bị lũ không tìm đâu ra được chiếc ghe, chiếc xuồng phao. Có thể những địa phương này ở vùng cao không có những phương tiện như dân vùng sông nước, nhưng ai cũng biết rằng hằng năm bão và lũ không trừ địa phương nào. Qua ống kính truyền hình, nhìn cảnh những người dân can trường dùng những phương tiện tạm bợ để cứu bà con láng giềng, nhiều người cho rằng mỗi địa phương đều dùng tiền thuế, tiền góp của dân để xây cổng văn hoá và những công trình linh tinh khác, vậy thì tại sao không chuẩn bị được những chiếc xuồng phao để cứu dân. Có khi trớ trêu cứu trợ Khi lũ tan, là lúc từng đoàn cứu trợ đến vùng bị nạn với tấm lòng và phẩm vật cứu trợ vô giá nhưng lắm lúc cũng rất trớ trêu. Chúng tôi từng chứng kiến có nhà nhận cả mấy chục chai nước mắm, nước tương, còn muối hàng mấy ký lô… trong khi nhu cầu về những mặt hàng này không cấp thiết lắm. Nhất là lại không có những vật dụnng và phương tiện chuẩn bị dự phòng trước những cơn lũ khủng khiếp mới sẽ tới. Ở những vùng bão khác cũng vậy, năm nào những người mất nhà cửa cũng được tặng tấm lợp rồi che tạm bợ trên khung nhà cũ, để rồi một cơn bão mới lại đến, có khi chỉ là bão nhẹ, mái nhà lại cuốn bay đi. Cứu giúp người trong cảnh thiên tai việc đó chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi giúp họ chuẩn bị đủ phương tiện tối thiểu ứng phó với những thảm hoạ mới sẽ tới. Đã đến lúc không chỉ chính sách nhà nước và ngay cả phương cách của cộng đồng trước thiên tai và dân cư vùng thiên tai cần thiết phải đổi mới. Từ vật liệu nhà ở cho đến những khu trú bão lũ, phương tiện ứng cứu và có khi cần một ngân hàng, cả những công ty bảo hiểm… Bởi vì thiên tai trong thời đại biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ ngày càng khủng khiếp hơn, chính vì vậy lòng tương thân tương ái của dân tộc và cộng đồng cần phải được vun bồi trong những phương thức ứng phó tổ chức cao và hữu hiệu hơn. Theo BBC.

Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2010

Phúc âm Chúa Nhật 30 Q.N.C (24/10/2010)

Nguồn : www.40giayloichua.net Mời nghe bài giảng chủ đề "THỐNG HỐI" của Linh Mục Phêrô Bùi Quang Tuấn, C.Ss.R CHÚA ĐÓN NHẬN LỜI CẦU NGUYỆN KHIÊM NHƯỜNG CỦA NGƯỜI NGHÈO KHỔ Lm. Carolô Hồ Bạc Xái * 1. Tội và thân phận tội lỗi Công bình mà xét thì người biệt phái ít tội hơn người thu thuế. Nhưng điểm đáng chú ý là người biệt phái lại nói về tội lỗi nhiều hơn người thu thuế: hắn đã kể ra những tội tham lam, bất chính, ngoại tình v. v. Tuy nhiên tất cả đều là... tội của người khác! Còn người thu thuế thì trái lại, tuy anh rất nhiều tội, nhưng anh lại không kể các tội đó ra. Điều duy nhất anh kể ra là "Con là kẻ tội lỗi. Lạy Chúa xin thương xót con" Thực ra người biệt phái cũng có tội: tội tự mãn, tội kiêu căng, tội khinh miệt người khác... Nhưng hắn không ý thức các tội đó. Hắn không nhìn nhận mình là người tội lỗi. Hắn không biết thân phận tội lỗi của mình. Chúa Giêsu phê phán người biệt phái vì: a/ Hắn chỉ nhìn thấy tội; b/ chỉ nhìn thấy tội của người khác; c/ hoàn toàn không thấy thân phận tội lỗi của mình; d/ hoàn toàn không thấy lòng thương xót của Chúa. Chúa Giêsu đề cao người thu thuế vì: a/ Anh không những thấy tội mà còn thấy thân phận tội lỗi của mình; b/ Anh còn thấy được lòng thương xót của Chúa nữa. Cả hai người trên đều có thể thành bài học cho chúng ta. Trước hết, chúng ta cũng giống người biệt phái. Chúng ta rất ý thức về tội lỗi của người khác nhưng lại không ý thức về tội lỗi của chính mình. Chúng ta nói về tội của người khác nhiều hơn về tội của mình. Điều này thật nguy hiểm, vì nó ngăn cản không cho chúng ta nhìn thấy tội lỗi của mình. Chúng ta cũng có thể học nơi người thu thuế. Anh dạy chúng ta can đảm xưng thú những tội lỗi của mình. Anh chỉ cho chúng ta thấy chúng ta là kẻ tội lỗi, kẻ mang thân phận tội lỗi. Nhiều người đến tòa cáo giải với một bảng liệt kê các tội đã phạm. Hầu hết các tội trong bảng liệt kê ấy đều không khác nhau mấy từ lần xưng tội này đến lần xưng tội khác. Xưng xong rồi ra về và mọi sự đều trở lại y như cũ. Việc xưng tội không giúp chúng ta cải thiện con người bao nhiêu. Tại sao? Vì chúng ta quá chú ý đến các thứ tội mà không chú ý bao nhiêu đến thân phận tội lỗi của mình. Tội không chỉ là những việc làm xấu, mà chủ yếu là tình trạng xấu ta đang sống. Vì thế điều cần thiết hơn không phải chỉ là xin Chúa tha tội cho mình, mà là xin Chúa thương xót cứu vớt mình khỏi tình trạng xấu ấy. "Một người tội lỗi ý thức thân phận tội lỗi của mình còn tốt hơn một vị thánh ý thức mình là thánh" (Yiddish). * 2. Một tấm lòng tan nát khiêm cung Trong xã hội Do Thái, ai cũng coi những người thu thuế là những kẻ tội lỗi. Trong dụ ngôn này chính Chúa Giêsu cũng coi như thế, và chính người thu thuế cũng tự coi như thế. Nhưng người thu thuế này đã lên đền thờ cầu nguyện, nghĩa là anh có thiện chí, anh muốn từ bỏ tội lỗi, anh muốn được tha. Tuy nhiên khi xét lại quãng đời tội lỗi đã qua, anh biết rằng anh không thể nào được tha: theo luật, một người lỗi đức công bình nếu muốn được tha thì phải trả hết tiền, còn bồi thường thêm 1/5 nữa. Anh làm sao nhớ hết những kẻ mà anh làm hại, có nhớ cũng không có tiền để trả, huống chi lại thường thêm 1/5. . . Lòng anh tan nát. Nhưng anh không tuyệt vọng: nếu theo luật, anh không thể được tha thì anh sẽ kêu xin đến lòng thương xót của Chúa. Thế là anh thốt lên: "Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi". Điểm đáng ta chú ý là anh thu thuế này đã trích những tiếng đầu của Thánh vịnh 50 ("Lạy Chúa xin xót thương con theo lòng nhân hậu Chúa"). Mà trong Thánh vịnh này cũng có câu "Chúa gần gũi những tấm lòng tan nát khiêm cung". Thiên Chúa đúng là như thế. Người thu thuế đã kêu đến chính nơi phải kêu, chạm tới chính chỗ phải chạm. Vì vậy Chúa đã thương xót anh, tha thứ tất cả cho anh, như lời Chúa Giêsu nói: "Ta nói cho các ông biết: người này khi trở về thì đã nên công chính rồi". * 3. Lòng trí hướng về ai? Người biệt phái và người thu thuế đều lên đền thờ và đều cầu nguyện. Nhưng lòng trí của mỗi người hướng đến những hướng khác nhau. Lòng trí của người biệt phái hướng về ai? Trước hết là hướng về người khác: "Lạy Chúa, con không như bao kẻ khác, tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia" Đồng thời lúc đó cũng hướng về bản thân mình: "Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con" Nơi quan trọng nhất phải hướng về là Thiên Chúa thì hắn lại bỏ qua! Còn lòng trí người thu thuế thì hướng thẳng về Thiên Chúa: "Lạy Thiên Chúa xin thương xót con là kẻ tội lỗi". Chúng ta dễ phạm lại sai lầm của người biệt phái: khi cầu nguyện, lòng trí chúng ta hướng về những nhu cầu ích kỷ của bản thân và than phiền về những điều khó chịu người khác gây cho mình. Hãy học cầu nguyện như người thu thuế là hướng về Chúa. Có nghĩ về mình là để ý thức thân phận tội lỗi của mình để rồi càng hướng về Chúa nhiều hơn. * 4. Ai là người công chính? Ngày kia, Khổng tử dẫn học trò từ nước Lỗ sang nước Tề. Trong đám học trò có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai môn sinh được Khổng Tử sủng ái nhất. Thời Đông Chu, loạn lạc khắp nơi khiến dân chúng lâm cảnh lầm than đói khổ. Thầy trò Khổng Tử cũng có nhiều ngày nhịn đói cầm hơi. Ngày đầu tiên khi đến đất Tề, Khổng Tử và các môn sinh được một người giàu có biếu cho một ít gạo. Khổng Tử liền phân công: Tử Lộ và một số môn sinh khác vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi đảm nhận việc nấu cơm. Đang khi nằm đọc sách ở nhà trên, Khổng Tử bỗng nghe tiếng động ở nhà bếp, nhìn xuống, người bắt gặp Nhan hồi đang mở vung xới cơm cho vào tay nắm lại từng nắm nhỏ rồi từ từ đưa vào miệng. Thấy cảnh học trò đang ăn vụng, Khổng Tử nhìn lên trời than thở: "Người học trò tín cẩn nhất của ta lại là kẻ ăn vụng?" Khi Tử Lộ và các môn sinh khác trở về thì nồi cơm cũng vừa chín. Khổng Tử cho tập họp tất cả lại và nói: - Bữa cơm đầu tiên này trên đất Tề làm cho thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương. Thầy nhớ đến cha mẹ, cho nên muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ, các con nghĩ có nên không? Nhưng liệu nồi cơm này có sạch chăng? Nhan Hồi liền chắp tay thưa: - Dạ thưa Thầy, nồi cơm này không được sạch. Khi cơm vừa chín, con mở vung ra xem thử, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng bụi trần rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm, con đã nhanh tay đậy nồi cơm lại nhưng không kịp. Sau đó, con định xới lớp cơm bẩn vất di, nhưng nghĩ rằng cơm ít mà anh em lại đông, nên con đã ăn phần cơm ấy. Thưa Thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi. Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử lại ngẩng mặt lên trời mà than rằng: - Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật. Suýt nữa Khổng Tử này đã trở thành kẻ hồ đồ! * Cho dù là bậc hiền triết như đức Khổng Tử thế mà suýt nữa đã trở thành kẻ hồ đồ, suýt nữa đã phê phán người học trò rất mực chân thật và khiêm tốn, sẵn sàng chịu thiệt về phần mình để được lợi cho anh em. Đó cũng là cám dỗ rất thường gặp nơi những người được xem là đạo đức thánh thiện, những người đã đắc thủ được một số nhân đức nào đó, đã làm được nhiều việc lớn lao, đã leo lên được chức vụ cao trong xã hội, đã đạt được một số thành tích trong đạo ngoài đời. Họ dễ tự mãn và khinh rẻ người khác lắm, nếu chẳng công khai thì cũng ngấm ngầm, lúc thì giấu được khi thì lộ ra. Chuyện ấy thường tình lắm nên Chúa Giêsu mới nhắc nhở chúng ta qua dụ ngôn: "Người Pharisêu công chính và người thu thuế tội lỗi". Người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện nhưng thực ra là để khoe khoang thành tích. Ông thưa chuyện với Chúa nhưng thực ra là ông đang độc thoại một mình. Ông "tạ ơn Chúa" nhưng thực ra là ông muốn Chúa hãy biết ơn ông. Quả thật, bảng liệt kê công trạng của ông không có gì sai. Những điều luật cấm ông không dám làm, những điều luật buộc thì ông còn làm hơn mức qui định. Ông thật là con người đúng mực, một con người hoàn hảo, không có gì để chê trách, một tín đồ trung thành với lề luật, một mẫu gương tuyệt vời. Chỉ tiếc có một điều là ông quá tự mãn tự kiêu nên bao việc lành phúc đức của ông theo "cái tôi" bọt bèo của mình mà trôi ra sông ra biển hết. Cái tôi của ông quá to, đến nỗi ông chỉ nhìn thấy mình mà không thấy Chúa; công trạng của ông quá nhiều đến nỗi ông chỉ nhìn thấy nó là đức độ của ông chứ không phải là do ơn Chúa; cái tự mãn của ông quá lớn, cho nên ông thẳng thừng khinh miệt anh em. Sai lầm trầm trọng của ông Pharisêu bắt đầu từ câu này: "Vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình hoặc, như tên thu thuế kia" (Lc, 8, 11). Giá như ông đừng so sánh cuộc sống của ông với người khác, mà biết đem cuộc sống của mình đối chiếu với cuộc sống thánh thiện của Đức Kitô, thì ông sẽ nhận ra mình còn thiếu sót biết là bao nhiêu, mình còn bất toàn biết là dường nào. Chính khi đó, ông mới cần đến lòng nhân từ xót thương của Chúa, cần đến sự tha thứ và khoan dung của Người. Chính lúc đó, ông mới biết cầu nguyện bằng những lời lẽ chân thành và khiêm tốn của người thu thuế: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi" (Lc 18, 13). Sai lầm căn bản của người Pharisêu còn ở chỗ ông đã không nhận ra sự công chính là một ân huệ Chúa ban (Pl 3, 9) chứ không phải tự ông mà có, tự ông tuân giữ hoàn hảo các lề luật được. Chính khi tự mãn thiếu khiêm tốn, và nhận sự công chính ấy là của riêng mình thì ngay lúc đó ông đã mất ơn nghĩa với Chúa và không còn công chính nữa. Người thu thuế nhận mình lầm rỗi, ông biết rõ tội mình vô phương cứu chữa, chẳng dám ngước mắt nhìn lên, chỉ biết đấm ngực ăn năn và kêu xin lòng thương xót Chúa. Ông bất lực hoàn toàn, chỉ phó thác cho lòng Chúa khoan dung. Ngay lúc đó, ông đã trở nên công chính bên trong. Chính tâm tình ấy mà Chúa đã nhìn xuống và làm cho ông nên công chính. Như thế, những kẻ cho mình là thánh thiện, là đầy đủ, thì sẽ trở về con số không; còn những kẻ nhận mình là không thì sẽ đủ chỗ cho Đấng Vô Cùng. Vì phàm "Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên" (Lc 18, 14). * 5. Mảnh suy tư Nếu người biệt phái có quyền thì chắc hẳn hắn đã không cho người thu thuế vào đền thờ. Nhiều người trong chúng ta cũng nghĩ rằng những kẻ tội lỗi không được đến nhà thờ: tội lỗi mà đến nhà thờ làm chi? Chỉ là giả hình! Nhà thờ là nơi dành cho những người đạo đức thánh thiện. Nếu như thế thì nhà thờ sẽ rất nhỏ hẹp. Tưởng tượng xem một tiệm sửa giày mà chỉ nhận những đôi giày còn tốt thì có còn là tiệm sửa giày không! Một bệnh viện mà chỉ nhận những người khoẻ mạnh thì có còn là bệnh viện không! Chúng ta đến nhà thờ không phải vì chúng ta xứng đáng mà vì chúng ta cần. Chúng ta cần được lòng thương xót Chúa chữa trị, và chúng ta cũng cần sự nâng đỡ của anh chị em trong cộng đoàn. (FM) * Lạy Chúa, chúng con có là gì mà chẳng do lòng Chúa thương ban. Xin cho chúng con biết khiêm tốn nhận mình thiếu sót lỗi lầm, để được Chúa xót thương tha thứ. Xin cho cuộc sống chúng con luôn biết rập theo khuôn mẫu thánh thiện của Đức Ki tô là Đấng Công Chính tuyệt đối. Amen. MÓN QUÀ THIÊN CHÚA QUÝ NHẤT Cha Mark Link, S.J. Chủ đề: "Sự ăn năn hối lỗi không chỉ đau buồn muốn chừa bỏ hành động xấu xa, nhưng còn ao ước thay đổi được những sai trái đã phạm." Có một câu chuyện cổ được phổ biến trong dân gian từ thời trung cổ. Câu chuyện về một phụ nữ từ trần khi còn trẻ và ra trước tòa phán xét. Cuộc đời bà khi ở trần thế thật bê bối. Khi đến cổng thiên đường, bà được bảo là chỉ vào thiên đường với một điều kiện. Đó là bà phải trở lại trần thế và đem về một món quà mà Thiên Chúa coi là giá trị nhất. Người phụ nữ trẻ trở về trần thế và suy nghĩ về món quà mà Thiên Chúa quý giá nhất. Ngày kia bà thấy một thanh niên vừa chết vì đức tin. Bà nghĩ, "A phải rồi, chắc đây là món quà Thiên Chúa quý nhất: đó là máu của một người chết vì đức tin." Bởi thế bà hứng lấy một giọt máu của người thanh niên và đem về thiên đường. Nhưng khi trình diện máu ấy, bà được bảo là còn có món quà mà Thiên Chúa quý hơn máu người tử đạo. Do đó bà trở về trần thế và suy nghĩ về món quà mà Thiên Chúa còn quý hơn máu của người chết vì đức tin. Sau đó bà gặp một nhà truyền giáo già nua rao giảng lời Chúa cho người nghèo. "A, đúng rồi!" bà nghĩ "đây là món quà Thiên Chúa quý nhất: đó là mồ hôi từ trán của người dành trọn cuộc đời để rao giảng tin mừng cho người nghèo." Nhưng khi bà trình diện món quà ấy, bà lại được bảo là còn có món quà mà Thiên Chúa quý hơn giọt mồ hôi của nhà truyền giáo. Do đó bà lại trở về trần gian và suy nghĩ về món quà mà Thiên Chúa quý hơn giọt mồ hôi của người dành trọn cuộc đời để dạy bảo dân chúng về Chúa Giêsu. Và cứ như thế bà trở lại thiên đường với các món quà quý giá. Nhưng lần nào bà cũng được bảo là còn có món quà mà Thiên Chúa quý nhất. Sau cùng, một ngày kia, khi sắp sửa bỏ cuộc vì chán nản thì bà gặp một đứa trẻ đang nô đùa gần bồn phun nước. Khuôn mặt của nó thật xinh xắn và ngây thơ. Ngay lúc đó, một người cưỡi ngựa đi đến. Ông ta xuống ngựa để đến uống nước ở bồn. Khi nhìn thấy đứa trẻ, ông nhớ lại thời thơ ấu thật hồn nhiên ngây thơ của ông. Sau đó ông nhìn vào hồ nước và thấy khuôn mặt của ông được phản chiếu trong đó. Nó thật xấu xa và cằn cỗi. Khi ông sững sờ nhìn vào khuôn mặt mình trong nước, bỗng dưng ông nhận thấy ông đã sai lầm phí phạm một cuộc đời mà Chúa đã ban cho ông. Lúc đó giọt nước mắt thống hối dâng trào trên mắt và lăn dài trên gò má nhăn nheo rồi rơi xuống hồ nước. Người phụ nữ vội hứng lấy giọt nước mắt ấy và đưa về thiên đường. Khi bà trình diện món qùa ấy, các thiên thần và các thánh đều vui mừng. Thật vậy, đây là món quà mà Thiên Chúa quý hơn tất cả món quà khác: đó là giọt nước mắt của người tội lỗi thống hối. Câu chuyện này thật thích hợp với bài Phúc Âm hôm nay. Vì lời cầu nguyện mà Thiên Chúa coi có giá trị nhất là lời cầu nguyện của người tội lỗi thống hối. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu còn nói: "Thiên đường sẽ vui hơn khi một người tội lỗi ăn năn sám hối hơn là chín mươi chín người công chính không cần sám hối ăn năn." (Luca 15:7) Hối lối được định nghĩa là đau buồn đến độ chấm dứt những hành động sái quấy. Nhưng hối lối còn hơn thế nữa. Nó không chỉ đau buồn đủ để chấm dứt những hành động sái quấy nhưng còn đau buồn đến độ ước muốn sửa sai những lầm lỗi mà chúng ta đã phạm trong quá khứ. Một câu chuyện sau của ông James Colaianni giúp chúng ta thấy rõ điều này. Một đứa bé đến thăm bà nội. Bà hỏi nó thích ăn gì nhất. Nó trả lời, "bánh bột chiên." Sau đó nó cho biết thêm là khi ở nhà nó chỉ được ăn có ba cái mà thôi. Rồi nó hỏi, "Vậy con ăn thiệt nhiều được không nội?" Bà nội gật đầu, "được." Sau khi đứa bé ăn gần mười cái bánh bột chiên, bà nhận ra sự khó chịu trên khuôn mặt của nó. Bà hỏi, "Sao vậy? Con không muốn ăn thêm nữa sao!" "Không," đứa bé trả lời, "Con không muốn ăn nữa. Cả mấy cái ăn rồi con cũng muốn ói ra!" Đó là một tâm trạng tốt - khó chịu nhưng tốt. Lý do nó tốt là vì đó là tâm trạng hối lỗi. Hối lỗi không chỉ đau buồn đến độ muốn từ bỏ, nhưng còn là đau buồn đến độ ước muốn đừng thi hành những gì mà chúng ta đã làm. Đây là loại thống hối mà câu chuyện cổ muốn đề cập đến. Đây là loại thống hối mà Chúa Giêsu đề cập đến trong Phúc Âm hôm nay. Nhiều năm trước đây, có một vở kịch trình diễn ở Broadway về một thanh niên bỏ học, đi bụi đời và rơi vào đường cần sa ma tuý. Trong một cảnh không thể quên được của vở kịch, người thanh niên này nhìn lên trời và đau đớn vì tuyệt vọng, anh thốt lên: "Tôi ao ước chừng nào, phải chi cuộc đời tôi là một cuốn sách để tôi có thể xé bỏ những trang giấy đầy những sai lầm vấp phạm." Cám ơn Chúa Giêsu, cuộc đời thì giống như một cuốn sách. Và cám ơn Chúa Giêsu, chúng ta có thể xé bỏ những trang giấy mà chúng ta đã sai lầm. Trong tình yêu của Người, Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta bí tích Hòa Giải. Qua bí tích này, chúng ta có thể xé bỏ những phần của cuộc đời mà chúng ta đã sai lầm lỗi phạm. Đây là ý nghĩa của bài Phúc Âm hôm nay. Đây là tin mừng mà chúng ta cử hành trong Thánh Lễ hôm nay. Đó là tin mừng vì món quà mà Thiên Chúa quý giá nhất là giọt nước mắt của người tội lỗi thống hối.Amen . TỰ TRỌNG (Lc 18:9-14) Như Hạ op Cầu nguyện là đặc điểm của con người. Cầu nguyện là hơi thở của các tín hữu. Nhưng đâu là bản chất và hình thức cầu nguyện đích thực. Hôm nay, Ðức Giêsu trình bày những điều kiện sâu xa cần thiết cho việc cầu nguyện. HAI LỜI CẦU NGUYỆN. Cầu nguyện là một hành vi đạo đức. Nhưng việc đạo đức đó cũng có thể trở thành vô đạo đức, nếu con người không biết tự trọng. Lời cầu nguyện hão huyền chỉ dựa trên những điều hư không. Hư không đích thực và lớn nhất trên trần gian này chính là cái tôi. "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện." (Lc 18:10) Cả hai người đều thờ một Chúa, đều ở trong một đền thờ, đều đang làm một hành vi đạo đức cao cả nhất. Một trong hai người cầu nguyện trong đền thờ là ông Pharisêu. Từ tâm tình, cung cách đến lời nói đều không thích hợp với việc cầu nguyện. "Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng : “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao người khác : tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia." (Lc 18:11) Ông xác định thế đứng của minh trong tương quan với người thu thuế. Khi so sánh, ông mới thấy mình cao vượt hơn mọi người về mặt đạo đức. Trong khi mọi người sống ích kỷ, xa hoa, trác táng, ông chỉ lo việc đạo đức. Trong việc đạo đức, ông là người rất kỷ luật và sốt sắng. Ông cầu nguyện thường xuyên và giữ Luật Thiên Chúa. Ông vượt trên cả những đòi hỏi của lề luật. Trong khi luật chỉ đòi ăn chay mội năm một lần vào Ngày Xá Tội Vong Ân, ông ăn chay một tuần hai lần vào thứ hai và thứ năm. Ông kể lể với Chúa : "Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con." (Lc 18:12) Thái độ tự mãn đã không cho ông nhìn thấy sự thật về mình và người khác nữa. Như vậy ông còn cần gì đến Chúa nữa không ? Vậy tại sao ông lại vào đền thờ ? Thực ra ông quan niệm cầu nguyện chỉ là việc đổi chác theo lẽ công bình, chứ không phải là một ân sủng. Trong khi đó, người thu thuế hoàn toàn ý thức tự bản chất cầu nguyện chỉ là xin Chúa thương xót. Ông cảm thấy phải tùy thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa. Nhìn cung cách ông cầu nguyện cũng có thể thấy được tất cả tâm tình của ông. "Người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời." (Lc 18:13) Cung cách đó cho thấy một khoảng cách giữa Thiên Chúa cực thánh và con người tội lỗi. Nếu Chúa không thương xót, khoảng cách đó không bao giờ lấp đầy được. Ông thành tâm cầu nguyện, "vừa đấm ngực vừa thưa rằng : “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi." (Lc 18:13) Ông nhận sự thật về mình, chứ không dám so sánh với ai. Ông chỉ biết tương quan giữa Thiên Chúa và mình là một tương quan bất tương xứng. Nhưng ông tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh của lòng Chúa xót thương sẽ xóa nhòa biên giới giữa cõi thánh thiêng và trần tục. Dụ ngôn hôm nay mạc khải một lúc hai tương quan. Tương quan giữa Thiên Chúa và con người không thể ổn định nếu tương quan giữa con người với nhau không tốt đẹp. Trong dụ ngôn này, rõ ràng ông Pharisêu tập trung hoàn toàn vào cái tôi của mình. Không thông cảm với người khác, làm sao ông có thể đòi Thiên Chúa cảm thông với mình ? Ðó là lý do tại sao ông thất bại trong việc cầu nguyện. Ông không làm đẹp lòng Chúa như mình tưởng. Thật là công dã tràng bao nhiêu khó nhọc trong việc giữ luật và đóng góp vào đền thờ. Trái lại, dù không có những việc đạo đức như ông, người thu thuế "đã được nên công chính" (Lc 18:14) vì đã hết lòng cầu khẩn Chúa xót thương đến thân phận mình. Ông không có công trạng gì để tự hào. Khi nhìn lại mình, ông chỉ thấy một vực thẳm tội lỗi. Nhìn lên Thiên Chúa, ông lại thấy vực thẳm đầy ân sủng, "ân sủng tự bản chất đầy lòng thương xót và tha thứ." (NIB 1995:343) Trái lại, ông Pharisêu không hề cầu xin Chúa tha thứ hay thương xót, nên tình trạng ông trước sau như một. Ông coi mình hoàn hảo về mọi phương diện, nên cầu nguyện đối với ông là đòi nợ. Thiên Chúa chẳng nợ ai cả, tại sao ông lại biến Thiên Chúa thành con nợ ? Lời cầu của ông hoàn toàn dựa trên công trạng riêng, chứ không trên tình yêu Thiên Chúa. Ông nói bằng một ngôn ngữ lạ hoắc. Thiên Chúa không hiểu ông muốn nói gì. Ông tin Chúa. Nhưng ông tin mình hơn. Thế mới biết tại sao Ðức Giêsu lại nói có "một số người tự hào cho mình là người công chính mà khinh chê người khác." (Lc 18:9) Những hạng công chính như thế không bao giờ là đối tượng của sứ mệnh cứu độ. Nói khác, ơn cứu độ không dành cho những người kiêu ngạo. Bởi đấy Chúa mới nói : "Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn." (Lc 5: 32) Chỉ những người tội lỗi mới hiểu được Chúa. Ngược lại, chỉ Chúa mới thông cảm với người tội lỗi, vì chính Chúa đã từng đi sát với họ, đến nỗi bị mang tiếng là "bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi." (Lc 7:34) Người tội lỗi hoàn toàn tay trắng trước nhan Chúa. Họ cũng là một hạng người nghèo về tinh thần. Họ không có gì để kể lể. Lời cầu nguyện của họ thật là vắn tắt và đơn sơ, nhưng đầy ý nghĩa đối với Chúa. "Ông đã chẳng cho đi cái gì, nhưng đã nhận được tất cả." (Faley 1994:696) PHARISÊU THỜI ÐẠI. Thánh Phaolô cũng đã từng là Pharisêu hạng gộc. Nhưng thánh nhân đã trải qua một kinh nghiệm đau thương và đã thấy được tất cả bộ mặt thật của những hạng "người tự hào cho mình là công chính." Nhưng giờ đây Người không tự cho mình là công chính, nhưng hi vọng được vinh dự ấy : "Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính." (2 Tm 4:8) Thánh nhân cũng cảm thấy tự hào khi nói : "Nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng." (2 Tm 4:17) Thế nhưng, khác với đồng môn xưa, Người qui hướng tất cả về Thiên Chúa, Ðấng "đã ban sức mạnh cho tôi." (2 Tm 4:17) Ðó là lý do tại sao Người đầy hứng khởi khi "chúc tụng Chúa vinh hiển đến muôn thuở muôn đời. Amen " (2 Tm 4:18) Khác với thái độ ngông nghênh của ông Pharisêu, thánh nhân thú nhận : "Tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Ðồ, tôi không đáng được gọi là Tông Ðồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa. Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa." (1 Cr 15:9-10) Ơn Chúa vô cùng sung mãn đã bù đắp được tất cả những thiếu sót quá khứ và đưa thánh nhân vào một tương quan hoàn toàn mới với Thiên Chúa và tha nhân. Tương quan giữa con người với Thiên Chúa và với anh em đang đổ vỡ. Khủng bố và chiến tranh là bằng chứng cho thấy vẫn còn nhiều Pharisêu trong cộng đồng nhân loại. Thượng phụ Igace IV Hazim đã vạch mặt chỉ tên: "Chính phủ Hoa Kỳ vô tình cho người ta cảm tưởng họ đang tìm cách thống trị thế giới,"(CWNews 22/10/2001) trong khi họ vẫn tỏ ra nhân đạo qua chính sách viện trợ. Nhân đạo chỉ là phấn son che đậy những nét cao ngạo trên gương mặt Âu Mỹ. Giống như Pharisêu, họ xuất hiện trước nhan Chúa với một tay đầy ắp công đức, một tay ngổn ngang bom đạn. Thử hỏi có thể lập tương quan với Thiên Chúa trong khi tương quan con người bị gẫy đổ không ? Tương quan nhân loại hôm nay cần phải được điều chỉnh lại. Nếu không, nhân loại sẽ trở về thời ăn lông ở lỗ, xây dựng cuộc sống trên luật báo thù. Theo phái đoàn Vatican tại Liên Hiệp Quốc, cuộc không kích vào Afghanistan là "những hành động báo thù, không loại trừ được các nguyên nhân gây nên khủng bố." (CWNews 23/10/2001) Ðức Tổng Giám mục Martino cho biết cần phải "loại bỏ các yếu tố hiển nhiên tạo nên những điều kiện dễ dàng sinh ra thù hận và bạo lực. Việc phủ nhận nhân phẩm, thiếu tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản, việc loại trừ một số người khỏi đặc quyền xã hội, những nơi tị nạn không thể chịu đựng nổi, và sự đàn áp về thân thể cũng như tâm lý là những mảnh đất mầu mỡ sẵn sàng cho bọn khủng bố khai thác. Bởi đấy, bất cứ chiến dịch chống khủng bố nào cũng cần đưa ra các hoàn cảnh xã hội, kinh tế, và chính trị nuôi dưỡng mầm mống khủng bố, bạo lực, và xung đột." (CWNews 23/10/2001) Mời các bạn cùng cầu nguyện với 3 phút Thánh vịnh