Vũ Trụ là một trong những bộ phim hoành tráng và thành công nhất của History Channel với 5 seasons. Ngay từ buổi đầu loài người ngắm nhìn những ngôi sao trên bầu trời, những hiểu biết của nhân loại về vũ trụ rộng lớn đã tăng lên không ngừng. Chúng ta biết nhiều hơn rất nhiều về không gian quanh mình so với cách đây một thế kỉ. Chúng ta biết nhiều hơn hẳn so với cách đây 10 năm.
Bộ phim Vũ Trụ Season 1 sẽ đưa bạn đến với những kiến thức thiên văn cơ sở. Sự gặp gỡ kỳ diệu của thiên văn và lịch sử, trong 12 giờ chiếu cô đọng và dễ hiểu , thông qua các mô phỏng đồ họa, bộ phim sẽ cho chúng ta cái nhìn thấu đáo từ những kiến thức thiên văn từ thưở sơ khai đến những khám phá khoa học tân kỳ nhất. Với những cảnh tái dựng bằng máy tính, bạn sẽ được chiêm ngưỡng những góc khuất của những điều đã biết.
Một tour du lịch vòng quanh Vũ Trụ sẽ cho bạn thấy một vũ trụ chưa ai từng biết đến: sức hấp dẫn của Chân Trời Sự Kiện của hố đen, rong chơi trên bề mặt Sao Hỏa, và ngụp lặn trên Mặt Trời. Hơn thế nữa, series này sẽ đề cập tới câu hỏi lớn của nhân loại: Liệu chúng ta có phải là duy nhất? Liệu Trái Đất chỉ là một giọt nước nhỏ trong cả đại dương Vũ Trụ? Liệu còn có nơi nào tồn tại sự sống?
Làm phụ đề Việt : HTT Group và Bitvn Translation Team (BTT)
Người dịch: HAAC , Trần Minh Huyền , Lê Minh Ngọc , GT , Markhieu
Tập phim này sẽ cho ta biết sự hình thành và cái chết giả định của Mặt Trời; cấu trúc vật lý, cách tạo ra năng lượng cũng như bản chất của nhật nguyện thực, bão Mặt Trời và các vết đen Mặt Trời.
Tập 2. SAO HỎA -- HÀNH TINH ĐỎ
Tập phim nói về sao Hỏa, hành tinh giống Trái Đất nhất trong Hệ Mặt Trời, ngọn Olympus Mons, ngọn núi lửa lớn nhất trong Hệ Mặt Trời, và các sứ mệnh thăm dò của NASA để tìm ra sự sống trong quá khứ trên hành tinh đỏ.
Tập 3. HỒI CÁO CHUNG CỦA TRÁI ĐẤT
Tập phim dựng lên một viễn cảnh ngày tận thế của Trái Đất, trong một vụ va chạm với thiên thạch hoặc sao chổi, hay bão Mặt Trời, hay một vụ bùng phát tia gamma và những kịch bản mà các nhà khoa học dàn dựng để tìm ra phương án ứng phó với các thảm họa từ bên ngoài không gian.
Tập 4. SAO MỘC -- HÀNH TINH KHỔNG LỒ
Tập phim đưa chúng ta đến thăm sao Mộc -- hành tinh lớn nhất trong Hệ Mặt Trời. Chúng ta sẽ khảo sát các thành phần và cấu trúc của nó cùng với một Hệ Mặt Trời mini với hơn 60 mặt trăng -- trong số đó có những mặt trăng có thể tồn tại sự sống.
Tập 5. MẶT TRĂNG
Mặt Trăng đã được hình thành như thế nào, và nó đóng vai trò gì trong sự tiến hóa của sự sống trên Trái Đất chúng ta? Cùng tìm hiểu thêm về các kế hoạch định cư trên Mặt Trăng trong tương lai của NASA.
Tập 6. PHI THUYỀN TRÁI ĐẤT
Cùng tìm hiểu Trái Đất là sự ra đời của nó cùng với sự hình thành của Hệ Mặt Trời. Sự sống đã bắt đầu tại đây như thế nào, và số phận của nó sẽ ra sao?
Tập 7. SAO THỦY VÀ SAO KIM: NHỮNG HÀNH TINH PHÍA TRONG
Tìm hiểu 2 hành tinh khắc nghiệt nhất trong Hệ Mặt Tời -- Sao Thủy và Sao Kim; một hành tinh được chạm trổ bởi những hố thiên thạch, hành tinh kia lại là một nhà kính đầy khí độc và mưa acid; cả hai đều cháy sém do khỏang cách quá gần Mặt Trời. Các nhà khoa học đã giả định ộtố loại sự ống ó tể phát triển trên hanh tinh này.
Tập 8. SAO THỔ: CHÚA TỂ NHỮNG CHIẾC NHẪN
Khám phá Sao Thổ và những chiếc vòng tuyệt mỹ. Chúng đã được hình thành như thế nào, những nghiên cứu mớiđây đã giải đáp bí ẩn này ra sao và hé lộ những bí ẩn mới về hành tinh khí này. Tập phim cũng khá phá mặt trăng Titan - nơi chứa đựng lượng dầu mỏ gấp nhiều lần nhu cầu sử dụng trên trái đất.
Tập 9. NHỮNG THIÊN HÀ XA XÔI
Quan sát không gian thông qua những hình ảnh rõ nét từ kính thiên văn không gian Hubble, sự hình thành Ngân Hà và hàng trăm tỉ thiên hà khác trong Vũ Trụ.
Tập 10. CUỘC ĐỜI CỦA MỘT NGÔI SAO
Sự tiến hóa của các ngôi sao, tác dụng của lực hấp dẫn, ma sát và áp suất khiến các phân tử hydro tổng ợp lại bằng phảnứng nhệt hạch, tạo ra năng lượng và ánh sáng kéo dài hàng tỉ năm, và rồi cuối cùng kết thúc bằng những vụ nổ huy hoàng và kỳ vĩ nhất trong vũ trụ
Mời các bạn theo dõi phim , xem theo Playlist YouTube tại đây
Người dịch:
Tập 1,4 : Phạm Phương Anh, Trần Thanh Vân, Bích Ngọc
Tập 2 : Vũ Hoàng Linh
Tập 3,5 : Khổng Xuân Hiền
Tập 6 : Nguyễn Thu Hà
Trong loạt phim CƠ THỂ LOÀI NGƯỜI, giáo sư Robert Winston đưa chúng ta trên chuyến du hành theo thời gian mà điểm khởi đầu là lúc sinh ra và điểm cuối cùng là khi giã từ cõi đời và lộ trình của chuyến đi chính là một nơi vô cùng quen thuộc: Cơ thể Loài người.
Với những công nghệ đồ họa máy tính, những kỹ thuật chụp ảnh tân tiến, những kỹ xảo quay chậm tuyệt diệu, chúng ta có thể khám phá mọi khía cạnh, mọi bộ phận trong cơ thể con người trong nhiều giai đoạn phát triển khác nhau trong cuộc sống : sinh ra, trưởng thành, rồi chết đi.
Bộ phim miêu tả chi tiết đồng thời người dẫn chương trình cũng giải thích thấu đáo các quá trình quan trọng của đời người như thụ thai, sự chập chững biết đi của trẻ, sự trưởng thành của thanh thiếu niên, sự lão hóa của người già hay cơ chế hoạt động cực kỳ phức tạp của bộ não (đây là bộ phận tiêu tốn nhiều năng lượng nhất trong cơ thể) và cuối cùng là cái chết
Qua cách nói dễ hiểu, trực quan và sống động của giáo sư Winston, các em nhỏ trên 10 tuổi hoàn toàn có khả năng cảm thụ được loạt phim này. Ngoài ra khán giả cũng sẽ rất bất ngờ và thú vị với những câu nói hóm hỉnh, những thống kê ngộ nghĩnh (chẳng hạn trung bình một người trong cả đời tốn mất 3 năm rưỡi thời gian để ăn và ăn hết 160 kg sô cô la). Bên cạnh đó là những tình cảm xúc động khi chứng kiến cảnh quay những phút cuối cùng của Herbie -- một bệnh nhân đang chống chọi với căn bệnh ung thư.
Tập 1 -- CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG (Life Story)
Chứng kiến cứ mỗi giây mỗi phút, bên trong cơ thể diễn ra biết bao các sự kiện mang tính vi mô
Xem video tại đây
Tập 2 -- ĐIỀU KỲ DIỆU HÀNG NGÀY (An Everyday Miracle)
Điều kỳ diệu trong giai đoạn mang thai
TÌNH YÊU THIÊN CHÚA ĐỐI VỚI CHÚNG TA
Lm.Carôlô Hồ Bạc Xái
* 1. Mục tử tốt lành
Dưới thời bạo Chúa Nêrô bắt đạo. Rôma ngập tràn máu lửa, biết bao tín hữu đã chết dưới tay ông vua điên loạn, bạo tàn.
Giáo hội non trẻ do Đức Giêsu thiết lập như sắp rã rời tan tác. Phêrô là con chim đầu đàn, là trụ cột của Giáo hội. Các tín hữu tha thiết xin Phêrô trốn khỏi Rôma, để tiếp tục dẫn dắt đoàn chiên. Người anh cả một thoáng phân vân, chần chừ. Quả thật đoàn chiên đang nao núng vì sợ thiếu vắng đầu đàn, sao có thể giữ vững niềm tin ? Thầy đã chẳng khuyên khi người ta bắt bớ chúng con ở thành này, thì hãy trốn sang thành khác sao ? Phêrô xách bị gậy đi trốn. Đụng Thầy ở cổng thành, Phêrô hỏi :
- Quo vadis, Domine ? Thưa Thầy, Thầy đi đâu ?
- Nếu con bỏ các Kitô hữu của Thầy thì Thầy sẽ quay lại để chịu đóng đinh cho họ một lần nữa.
Phêrô hiểu ngay lời Thầy, quay trở lại Rôma để an ủi khích lệ đoàn chiên, và để chịu đóng đinh thập giá như Thầy.
"Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì đoàn chiên" (Ga.10,11). Đức Giêsu ví mình như một mục tử tốt lành khác với người chăn thuê, vì người đã dám hy sinh mạng sống cho đoàn chiên. Cái chết của Người không bất ngờ, cũng không đầu hàng bạo lực, nhưng là một cái chết tự hiến. Đức Giêsu chết để nói nên lời yêu thương. Một tình yêu tột đỉnh, yêu cho đến cùng. Thánh Gioan viết : "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình" (Ga.15,13).
Chính tình yêu đã tạo nên mối dây gắn bó giữa chủ chiên và từng con chiên, khiến Người nói : "Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta" (Ga.10,14-15). Đó là sự hiểu biết nhau sâu xa, sự trân quí giữa mục tử và đoàn chiên.
Đức Giêsu là mục tử duy nhất, tối cao và gương mẫu. Các mục tử khác chỉ là phụ tá giúp chăn dắt đoàn chiên của Người. Mọi mục tử phải noi gương Người, dám chết cho đoàn chiên được sống. Phêrô là người mục tử đầu tiên. Phêrô có thể trốn bắt bớ, tù tội, chết chóc. Nhưng chính khi đổ máu, Phêrô đã giữ vững đoàn chiên. Cái chết của Phêrô đã có sức thuyết phục hơn bất cứ lời rao giảng nào : "Thầy làm vững đức tin của con. Rồi đến lượt con, con sẽ làm vững đức tin của anh em con". Các mục tử tiếp bước Phêrô vui lòng nằm xuống để nên nhân chứng, và củng cố niềm tin cho các anh em.
Dụ ngôn người "Mục tử tốt lành" cho thấy tình yêu sâu sắc của Thiên Chúa.
• Người yêu thương mỗi người một cách cá biệt, không yêu cách chung chung.
• Người yêu thương vô điều kiện, ngay cả khi chúng ta lầm đường lạc lối.
• Người yêu thương bằng tình yêu vui mừng, chứ không la rầy khiển trách khi tìm thấy chiên lạc.
Ngày nay, Đức Giêsu vẫn cần những vị mục tử tốt lành lo cho đoàn chiên trên thế giới. Người rất cần các bạn trẻ hiến thân cho sứ mạng mục tử này. Người mời gọi chúng ta hãy nhìn bằng trái tim yêu thương, để thấy những cơn đói Lời Chúa, đói tình thương, đói của ăn, đói ý nghĩa cuộc sống. Người kêu gọi chúng ta hãy tha thiết xin Cha cho nhiều mục tử tận tụy hơn, thanh khiết hơn, vô vị lợi hơn, và thánh đức hơn. Những mục tử sẵn lòng âm thầm chết từng ngày cho đoàn chiên.
*
Lạy Chúa, xin gởi đến cho chúng con những mục tử có trái tim của Chúa : luôn say mê Thiên Chúa và yêu thương con người, có tình bạn thân thiết với Chúa, dám hy sinh cho đoàn chiên, dẫn đưa chúng con về với Cha là nguồn hạnh phúc thật của chúng con. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
* 2. Ngày cầu nguyện cho ơn gọi Linh mục và Tu sĩ
a/ Đối với người Việt chúng ta thì hình ảnh "chiên và người chăn chiên" không phải là một hình ảnh gần gũi, vì xứ sở chúng ta không thuộc vùng Cận Đông với nghề chăn nuôi chiên cừu như Pa-lét-tin xưa. Hơn nữa trong khi cả đất nước đang nói đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà chúng ta cứ nhắc đi nhắc lại câu chuyện "đàn chiên với mục tử", thì e rằng chúng ta bị coi là những người lạc hậu ! Nhưng nếu đi sâu vào ý nghĩa và biểu tượng tôn giáo của hình ảnh "chiên và mục tử" thì chúng ta lại chẳng thấy lạc hậu tí nào. Vì chưng những người tin ở Thiên Chúa đều xác tín rằng họ luôn được Thiên Chúa và Chúa Ki-tô quan tâm và tận tình chăm sóc, không chỉ về phương diện tâm linh mà về mọi phương diện con người, không chỉ ở đời sau mà ở cả đời này lẫn đời sau. Mối tương quan gắn bó giữa người chăn và con chiên là hình ảnh sống động, cụ thể của mối tương quan giữa Thiên Chúa và người tín hữu.
b/ Những nét đặc trưng của Vị Mục Tử nhân lành : Đức Giêsu đã công bố Người là Vị Mục Tử nhân lành, với những nét đặc trưng sau đây :
* Vị Mục tử nhân lành hết lòng yêu thương những người thuộc về mình. Vì yêu thương nên Người quan tâm đến mọi người và đến từng người. Càng quan tâm thì càng biết tường tận : biết họ muốn gì ? họ cần gì ? họ có thể gặp phải những nguy cơ cạm bẫy hay thử thách nào ?
* Vị Mục tử nhân lành luôn đi đầu, đi trước tức hướng dẫn, lãnh đạo đoàn chiên, tức đứng mũi chịu sào, gánh chịu mọi khổ cực cho người thuộc về mình. Vị ấy sẽ đem chiên đến những miền an toàn, có suối mát và cỏ xanh, để chiên được ăn uống no nê, được nghỉ ngơi thoải mái. Chiên sẽ tăng trưởng cả về chất lượng lẫn số lượng. Thậm chí vị Mục tử sẽ hy sinh mạng sống vì chiên.
c/ Lý do Hội Thánh lấy ngày chủ nhật Chúa Chiên Lành làm ngày cầu nguyện cho ơn gọi linh mục tu sĩ :
Căn cứ vào Bản tin Hiệp Thông (tiếng nói của Hội đồng Giám Mục Việt Nam) số 11, ra ngày 15 tháng 02 năm 2002 (trang 8-9) cung cấp cho chúng ta những con số cụ thể và đáng chúng ta suy nghĩ trong ngày hôm nay :
(1) : Tổng dân số của Việt Nam hiện là : 80.489.857 người (76.683.203 dân tộc kinh + 3.806.654 dân tộc thiểu số). (2) : Tổng số công giáo của 25 giáo phận : 5.324.492 người (5.065.105 dân tộc kinh + 259.387 dân tộc thiểu số). (3) : Tổng số linh mục của 25 giáo phận : 2.526 Lm (2.133 triều + 393 dòng). (4) : Tổng số tu sĩ trong 25 giáo phận : 11.282 Ts (1.524 nam + 9.758 nữ). (5) : Tổng số chủng sinh của 25 giáo phận : 1.765 Cs (1.044 đang học + 318 học xong + 403 dự bị). (6) : Tổng số giáo lý viên của 25 giáo phận : 45.858 Glv (671 giáo phu + 219 có lương + 44.968 không có lương).
Nếu chia bình quân số giáo dân cho số linh mục (triều dòng, khoẻ yếu) thì một linh mục phải phục vụ 2.107 giáo dân. Nếu chia bình quân tổng số dân Việt Nam cho số linh mục (triều dòng, khoẻ yếu) thì một linh mục phải phục vụ 31.865 người. Nếu chia bình quân số giáo dân cho số tu sĩ (nam nữ, khoẻ yếu) thì một tu sĩ phải phục vụ 472 giáo dân. Nếu chia bình quân tổng số dân Việt Nam cho số tu sĩ (nam nữ, khoẻ yếu) thì một tu sĩ phải phục vụ 7.134 người. Nếu chia bình quân tổng số người VN không công giáo cho tổng số người VN công giáo thì một người VN công giáo phải giúp cho 14 người VN không công giáo biết Chúa và gia nhập Giáo hội.
Nguyên nhìn vào những con số trên, chúng ta cũng đã thấy được nhu cầu to lớn về nhân sự của Giáo hội Việt Nam trong sứ mệnh sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng mà Giáo hội đã nhận được từ chính Chúa Giê-su. Đã đành rằng ngày nay trách nhiệm sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng không chỉ của riêng các linh mục, tu sĩ mà của mọi Ki-tô hữu. Nhưng các linh mục, tu sĩ vẫn là lực lượng quan trọng nhất, là lực lượng nòng cốt và đầu tầu trong lãnh vực này. Thế nhưng ơn gọi linh mục, tu sĩ càng ngày càng giảm sút trong các Giáo hội địa phương, thậm chí giảm trầm trọng trong một số Giáo hội. Riêng tại Việt Nam, thì tình hình có mấy nét riêng sau đây : (1) Việc thanh niên nam nữ muốn vào chủng viện, dòng tu còn gặp nhiều cản trở từ những qui định của Nhà Nước. (2) Việc các Giám mục, Dòng tu gửi các linh mục, tu sĩ đến nơi cần gửi, đặc biệt đến vùng sâu vùng xa, cũng chẳng dễ dàng gì. (3) Ơn gọi tu trì đã có dấu hiệu sút giảm ở thành thị, nhất là ở các quận nội thành.
Vì thế cho nên chúng ta không chỉ cầu xin Thiên Chúa ban cho Giáo hội -nhất là Giáo hội Việt Nam- nhiều linh mục, tu sĩ tài đức thánh thiện, nhiệt thành mà chúng ta còn phải nài xin Thiên Chúa tạo thuận lợi cho các ứng sinh linh mục tu sĩ được đào tạo đến nơi đến chốn và cho các linh mục tu sĩ có điều kiện cần thiết để thực thi sứ vụ của mình. (Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội).
* 3. "Tình yêu, con đường duy nhất để đến với thế giới bất tín".
"… Thánh nữ Têrêxa đã mở ra cho chúng ta con đường duy nhất để đến với thế giới những người không tin : đó là tình yêu. Không ai có thể sống thiếu tình yêu. Trước tấm thảm kịch của thuyết nhân bản vô thần, thảm kịch, vì do nhân danh một tư tưởng cao cả của nhân loại mà con người đã khước từ Thiên Chúa, mọi Kitô hữu, mọi Linh mục, mọi tu sĩ đều bồn chồn lo âu (…) thánh Phanxicô đệ Salê đã nói : "Tất cả đều dành cho tình yêu, đều ở trong tình yêu, đều vì tình yêu và đều phát xuất từ tình yêu trong Giáo hội". Nhưng cái chân lý cao cả ấy hầu như đã bị lãng quên, đã bị thuyết Jansénisme khô cằn ngăn chận. Chỉ có người nữ tu dòng kín trẻ trung thành Lisieux đã nhắc ta nhớ lại chân lý ấy trong nét tươi tắn của thái độ Ngài hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa. Hôn thê của Đấng chịu đóng đinh và đã vì yêu mà tự nộp mình cho ta, chính thị cũng dâng hiến cho Người tình yêu vì tình yêu, như vị hôn thê dâng hiến cho hôn phụ. "Trong trái tim giáo hội tôi sẽ là tình yêu" thế là đã rõ, một xác quyết như thế đụng chạm tới tất cả mọi người ở thế kỷ XX của chúng ta vì chúng ta không biết yêu và được yêu trong chân lý (…)
Thánh Nữ Têrêxa luôn luôn là, tôi dám nói, một âm vang đích thực của Trái tim Thiên Chúa cho thời đại chúng ta, cho mỗi người chúng ta. Dù ta là ai, ta đã được tạo thành để sống tình yêu Thiên Chúa, tình yêu đã trao ban sự sống cho ta. Ta đến từ Thiên Chúa và ta lại trở về với Người, Người là Đường là Sự Thật và là sự sống. Công đồng Vatican II đã mạnh mẽ nhắc lại điều này. Sử gia mai ngày có thể thắc mắc "Giáo hội thời Công đồng đã làm gì ?" Đức Phaolô VI đã trả lời họ ngay từ ngày 14.9.1965 : "Giáo hội yêu, giáo hội yêu, yêu bằng trái tim mục tử, yêu bằng trái tim đại kết, yêu bằng trái tim rộng mở đón nhận mọi người kể cả những người bắt bớ giáo hội". Ta nên tìm lại cái trực cảm quan trọng ấy của Đức Phaolô VI. Đó cũng là trực cảm của thánh nữ Têrêxa thành Lisieux : "Giáo hội là Đức Kitô và Đức Kitô là tình yêu". Chúng ta được Thiên Chúa yêu thương.
Thánh nữ Têrêxa đã khơi gợi hàng ngàn, hàng ngàn ơn gọi làm Linh mục trên khắp thế giới. Những Linh mục ấy đã tìm thấy nơi thánh nữ một tình yêu tuyệt đối dành cho Đức Giêsu và tình yêu Giáo hội, một ý nghĩa sâu xa trong kinh nguyện và trong sứ mệnh truyền giáo trên khắp hoàn cầu, một sự kết hợp bằng chiêm niệm và hoạt động, một mẫu gương dùng con đường tình yêu bé nhỏ và phó thác, đường nên thánh trong cuộc sống hằng ngày. Ngày nay, thánh nữ Têrêxa vẫn tiếp tục làm phong phú tác vụ của các Linh mục, đặc biệt là những Linh mục trẻ bị cuốn hút bởi sứ điệp tình yêu giữa lòng Giáo hội (…)
Tất cả hành trình đức tin thâu tóm trong đức cậy và đức ái. Niềm tin là niềm hy vọng của tình yêu, tin là hy vọng vào tình yêu. Phải chăng vai trò đã được quan phòng của sứ điệp của thánh nữ Têrêxa, ở ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ 3, chính là trả lại cho ta tình yêu và niềm hy vọng ? Con người đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Tình yêu là để yêu thương. Trong lãnh vực tình yêu, thánh nữ Têrêxa là bậc thầy linh đạo trong tình yêu, không có dè dặt, không có tính toán, không có trung dung, không có quân bình vì con người chẳng bao giờ có thể yêu Thiên Chúa cho xứng với tình Người yêu ta (…).
Một nữ tu hỏi thánh nữ Têrêxa : "Chị nói gì với Đức Giêsu ?" Chị thánh trả lời : "Em không nói gì hết, em yêu Người", Chỉ tình yêu là quan trọng. (Đức Hồng Y P.Poupard, tài liệu cho ngày ơn thiên triệu. Trích dẫn bởi Fiches dominicales, năm B)).
* 4. "Trong trái tim Giáo hội, tôi sẽ là Tình yêu"
(Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng, bản văn được trích dẫn trong tài liệu của Ủy ban quốc gia về ơn thiên triệu).
"… Sau cùng con đã tìm thấy an nghỉ… tìm trong thân thể mầu nhiệm của Giáo hội, con chẳng thấy mình trong bất cứ chi thể nào đã được thánh Phaolô miêu tả, đúng hơn con muốn có mặt trong tất cả những chi thể ấy… Đức Ái đã cho con chìa khóa ơn gọi của con. Con hiểu rằng nếu giáo hội có một thân thể gồm nhiều chi thể khác nhau, chi thể quan yếu nhất, cao cả nhất không thể thiếu được, con hiểu đó là Trái Tim và Trái Tim đó cháy đỏ Tình yêu. Con hiểu rằng chỉ có Tình yêu mới làm cho các chi thể của Giáo hội hoạt động và nếu tình yêu vụt tắt, các Tông đồ sẽ thôi không loan báo Tin mừng, các thánh tử đạo sẽ từ chối đổ máu… Con hiểu rằng Tình yêu phủ trùm lên mọi ơn gọi và tình yêu là tất cả, bao gồm mọi không gian và mọi thời gian. Tắt một lời, Tình yêu là vĩnh cửu !
Thế là, trong niềm vui tột đỉnh, con kêu lên : "Ôi Giêsu, Tình yêu của con… ơn gọi của con, cuối cùng con đã tìm thấy ơn gọi của con chính là Tình yêu !…
Phải rồi, con đã tìm được vị trí của con trong Giáo hội. Chỗ ấy, ôi Lạy Chúa, chính Chúa đã ban cho con… Trong Trái Tim Giáo hội, thưa Mẹ, con sẽ là Tình yêu… như thế con sẽ là tất cả… như thể giấc mơ của con đã thành hiện thực !!!..."
Hôm nay là ngày cầu nguyện cho ơn gọi Linh mục và tu sĩ, chúng ta cầu xin Chúa sai đến đoàn chiên Chúa những chủ chăn tốt lành như lòng Chúa mong muốn. Lạy Chúa, lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, xin cho chúng con biết rộng rãi góp phần vào việc đào tạo Linh mục và tu sĩ, bằng lời cầu nguyện, và bằng sự giúp đỡ nhiệt tình .Amen.
Thánh Ca : Chúa Chăn Nuôi Tôi
QUYẾT ĐỊNH ĐÚNG
Msgr. Edward Peter Browne
L. M. Gioan Trần Khả chuyển dịch
Mỗi ngày trong cuộc sống chúng ta làm nhiều quyết định. Một số quyết định nho nhỏ, một số quyết định lớn, và một số quyết định thật lớn. Thí dụ như mỗi buổi sáng khi thức dạy thì quyết định đánh răng. Đánh răng không phải là một việc lớn. Hoặc bạn thay áo hay giặt dũ. Quyết định khác có thể là hôm nay bạn quyết định mua chiếc xe mới. Đó là một quyết định quan trọng và khá lớn. Cũng có thể bạn nói là trong năm nay sẽ mua căn nhà mới. Quyết định đó là quyết định thật lớn. Một số quyết định nhỏ, một số quyết định lớn lao.
Quyết Định Lớn - Quyết Định Nhỏ
Các bạn ở đây tham dự Thánh Lễ là vì các bạn quyết định muốn là môn đệ của Đức Kitô; các bạn muốn được ơn cứu rỗi. Đó là quyết định lớn lao nhất mà các bạn có thể làm. Nhưng đôi khi các bạn bị phân tâm khỏi cái quyết định lớn lao về ơn cứu rỗi của mình, bởi nhiều những cái quyết định nho nhỏ khác.
Trong bài đọc thứ nhất trích từ sách Tông Đồ Công Vụ, Thánh Phêrô giải thích: Anh em đã nghe về Đức Giêsu Kitô. Ngài đã làm nhiều phép lạ, ngài đã làm nhiều việc như thế, nhưng bởi vì ngài đã không làm điều mà anh em muốn ngài làm, do đó anh em đã đóng đinh ngài, anh em đã giết ngài.
Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu Kitô xưng Ngài là Đấng Chăn Chiên Tốt Lành. Ngài kêu gọi mọi người nhưng nhiều người không đáp lại. Họ biết ngài là ai; họ biết ngài là Đấng Cứu Thế, nhưng họ không đáp lại.
Bài Tin Mừng hôm nay trích từ chương thứ 10 của Thánh Gioan. Nếu bạn đọc ở chương 6 nói về việc Đức Giêsu Kitô cho một đám đông hàng ngàn người ăn với chỉ vài chiếc bánh và mấy con cá. Họ đã đi theo ngài bởi vì họ thấy có lợi cho họ. Và Đức Giêsu nói với họ, “Ta sẽ cho các ngươi chính Thịt và Máu của ta để làm của ăn thức uống và trừ khi các người tiếp nhận, các ngươi sẽ không thể có sự sống đời đời.” Nhiều người đã trả lời rằng, “Chúng tôi không thích nghe nói như thế” và họ đã bỏ đi. Họ đã quay trở đi. Họ đã từ chối Đức Giêsu Kitô bởi vì một vài cái quyết định nhỏ của họ.
Chúng ta nói là mình tận hiến cho Đức Kitô, chúng ta nói mình là môn đệ của Ngài. Tuy nhiên chúng ta làm những quyết định nghịch lại Ngài. Một số trong những quyết định đó thì nho nhỏ, một số có thể là khá lớn, nhưng chúng sẽ góp tích lên. Nếu người ta làm đủ những quyết định xấu,nhỏ hay lớn, trong cuộc sống, họ sẽ gánh chịu sự mất mát phần linh hồn. Cho dù họ có nghĩ đến mục đích cho phần rỗi linh hồn của họ, những quyết định xấu họ làm có thể là cản ngăn làm cho họ không đạt tới được ơn cứu rỗi. Các bạn không thể có được cả hai lối sống. Tôi sẽ đan cử cho các bạn một danh sách liệt kê nhiều điều và các bạn xét trong trí xem các bạn thuộc vào loại nào, nhiều hay tất cả. Thử xét xem các quyết định của các bạn có ảnh hưởng đến ơn cứu rỗi của mình như thế nào.
Dấu Sai Lầm
Khoảng 30% số người có mặt trong thánh đường bây giờ đi lễ trễ, có thể trễ từ 5 đến 15 phút hoặc 20 phút. Họ đi lễ trễ như thế hàng tuần. Đó là một quyết định. Và nếu các bạn đi lễ sớm, các bạn có thể quan sát lúc rước lễ, vừa khi linh mục cho rước lễ thì 25% số người tham dự Thánh Lễ bỏ ra về, hai mươi lăm phần trăm đi ra. Họ không thích phép lành của Chúa Kitô và phép lành của linh mục, họ sẽ bỏ ra về. Họ đã làm một quyết định như thế. Nhà thờ không là quan trọng. “Tôi có việc khác phải làm.”
Chúng ta có thống kê cho biết là 57% người Công Giáo đồng ý cho phá thai. Đó là một hành phi chấp nhận được. Năm mươi bảy phần trăm. Họ nói là cá nhân họ chống việc phá thai, nhưng nếu ai đó muốn phá thai thì người đó có thể làm như họ muốn. Đó là thái độ phản ứng của người ta. Năm mươi bảy phần trăm tán thành cho việc phá thai và họ bầu cho các ứng cử viên ủng hộ việc luật pháp hóa phá thai. Họ đã tự đẩy mình ra xa hơn với ơn cứu rỗi. Nếu con số thống kê là đúng, và tôi nghi là đúng, họ nói là khoảng từ 60% tới 80% các cặp vợ chồng dùng các phương pháp ngừa thai nhân tạo. Con số đó gồm cả các người Công Giáo. Đó là một quyết định đi ngược lại với lề luật của Thiên Chúa. Quyết định lớn vẫn nằm ở đó, “Tôi muốn lên Thiên Đàng.” Nhưng cái quyết định nhỏ này có thể cản ngăn quyết định lớn kia.
Mới đây tôi mở duyệt qua các đài truyền hình và xem thấy những vị giảng thuyết trên truyền hình than phiền là bẩy mươi phần trăm các tín hữu của họ không đóng góp tài chánh. Đóng góp ở đây có nghĩa là dâng cúng 10% lợi tức hay tài sản của họ cho Thiên Chúa. Bẩy mươi phần trăm số giáo dân không đóng góp và các vị giảng thuyết đó thấy khó chịu. Nhưng đó có nghĩa là 30% số giáo dân của họ có đóng góp. Các bạn có biết bao nhiêu người Công Giáo đóng góp vào việc nhà Chúa không? Ít hơn là 1%. Thiên Chúa nói rất rõ ràng, “Hãy dâng cho Thiên Chúa trước và mọi sự sẽ ban thêm cho các ngươi.” Các bạn thuộc về số 1% người đóng góp hay là thuộc về số 99%?
Nhiều người nói là họ không thực sự tin Bí Tích Thánh Thể là Mình và Máu của Chúa Kitô, nó chỉ là một dấu chỉ nào đó thôi. Thật lạ lùng. Có một mục trong một tờ báo Công Giáo nói là 40% người Công Giáo không tin là Bí Tích Thánh Thể thực sự là Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô. Bởi vì họ tin như vậy cho nên họ phạm sự thánh khi họ rước lễ cách bất xứng. Đây là một thống kê khác. Khoảng ba mươi đến ba mươi lăm phần trăm số người rước lễ phạm sự thánh. Điều đó có nghĩa là một người có tội trọng, sống lâu trong tình trạng tội trọng và tiếp tục rước lễ. Ba mươi đến ba mươi lăm phần trăm số người mắc tội phạm sự thánh. Không những họ không được ơn thánh mà họ còn mắc tội phạm sự thánh bằng việc tiến lên bàn thờ nhận lấy Mình và Máu Chúa Kitô.
Có một số khá đông người không tin là họ cần phải đi xưng tội. Tôi không biết là bao nhiêu người bởi vì tôi không thể kiểm kê được. Nhưng một số khá đông nói là họ không cần phải đi xưng tội nữa. Họ chỉ cần xưng với Thiên Chúa và làm như vậy là đủ rồi. Do đó nhiều người không đi xưng tội nữa. Thực sự là họ sai. Đức Giêsu Kitô đã thiết lập phép giải tội, vài ngài nói với vị linh mục đại diện Giáo Hội là, “Con tha tội cho ai thì người ấy được tha, con cầm buộc ai thì tội người ấy bị cầm buộc.” Các bạn không thể nói là, “Tôi không thích điều đó, và tôi quyết định sẽ không đi xưng tội.” Còn nhiều điều khác tôi có thể thu góp và kể ra nhưng như thế cũng đã đủ. Nếu các bạn thuộc về một trong hai hay ba loại người này, và quyết định làm ngược lại giáo huấn của Đức Kitô, thì các bạn sẽ không chu toàn cho phần rỗi linh hồn của mình bởi vì quyết định của các bạn làm ngược lại.
Dấu Chọn Đúng
Đức Kitô xưng nhận là Đấng Chăn Chiên Tốt Lành và ngài mời gọi, “Hãy theo Ta. Hãy mang lấy ách của Ta và gánh của ta thì nhẹ nhàng.” Nhưng có nhiều người không theo, họ không thích theo, do đó họ tự quyết định không muốn đi theo Đức Kitô. Kết qủa là quyết định lớn lao muốn được ơn cứu rỗi, muốn kết hiệp với Thiên Chúa, bị họ loại bỏ từ từ do các quyết định nho nhỏ khác trong đời sống của họ.
Hôm nay trong bài đọc thứ hai, thánh Gioan nói, Thiên Chúa đã yêu chúng ta đến chừng nào bởi Ngài đã cho chúng ta quyền được gọi là con cái Thiên Chúa. Thiên Chúa gọi chúng ta là con cái của Ngài. Ở chương trước trong thư của thánh Gioan nói là bất cứ ai nói là họ yêu mến Thiên Chúa nhưng không tuân giữ các giới răn của Thiên Chúa thì là người nói dối. Do đó nếu chúng ta muốn tỏ dấu yêu mến Thiên Chúa thì chúng ta tuân giữ lề luật của Chúa. Nếu chúng ta muốn là những môn đệ của Đức Giêsu Kitô, chúng ta nhận ngài là Đấng Chăn Chiên Tốt Lành và bước theo Ngài bất cứ khi nào Ngài kêu gọi chúng ta. Nếu ngài trao cho chúng ta những việc khó khăn, chúng ta vẫn cứ tuân theo. Nhưng thế giới trần tục luôn xen vào và nóí là chúng ta không làm như vậy nữa. Chúng ta đã thay đổi hết rồi, ngày nay không còn phải sống như thế nữa. Chúng ta làm một quyết định nhỏ ở chỗ này, một quyết định nhỏ khác ở chỗ kia, và tự đẩy mình xa khỏi cái quyết định lớn lao.
Các bạn có bổn phận làm quyết định ngay lúc này trong Thánh Lễ. Các bạn có là môn đệ của Đức Kitô theo đường lối Ngài kêu gọi, hay theo đường lối riêng của mình? Nếu các bạn là môn đệ của Đức Kitô thì hãy đi theo và nhắm thẳng đến giải thưởng. Hãy đi theo Đức Giêsu Kitô. Ngài là Đấng Chăn Chiên Tốt Lành, và khi Ngài kêu gọi thì các bạn đáp theo. Khi các bạn đáp theo như là con chiên trong đàn chiên của Đức Giêsu Kitô, các bạn có thể chắc chắn là quyết định lớn lao sẽ được thành sự. Các bạn sẽ được ơn cứu rỗi.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho các bạn.Amen.
Thánh Ca : Chúa Chăn Nuôi
GÃ CHĂN BÒ CỦA THẾ KỶ 21
Pio X Lê Hồng Bảo
Có lẽ hình ảnh “người chăn chiên” hơi xa lạ với dân Việt nam. Trưởng thành từ nền văn minh lúa nước, hình ảnh những chú mục đồng nằm trên lưng trâu hay cưỡi trên lưng bò với ống sáo vi vu giai điệu nom gần gũi và thân thương hơn. Cho dù thuộc tầng lớp nào hay làm nghề nghiệp gì, cũng có người hiền kẻ dữ: Từ vua chúa, quan quyền, địa chủ, phú hào cho đến thương nhân, sĩ tử, công nhân hay nông dân… Nhưng trong tâm khảm tôi, hình ảnh các chú mục đồng luôn luôn… hiền! Không chỉ là những chú bé trong tranh Đông Hồ mà cả những “gã chăn bò” tôi gặp trong cuộc đời bươn chải. Những gã chăn bò luôn tìm những bãi cỏ tốt nhất cho đàn của mình, những gã chăn bò cuối ngày luôn kiểm tra xem bò của mình đã no chưa, những gã chăn bò đi ngang đám mía mới chặt tranh thủ xin một bó ngọn mía cho những con bò cái đẻ, những gã chăn bò mùa lạnh đi xin rơm để thả vào chuồng cho ấm đàn bò…
Tên sách: Sự sụp đổ của đồng Đô-la & Phương pháp tìm kiếm lợi nhuận từ nó Tác giả: James Turk - John Robino NXB: Tổng hợp TP. HCM
Có nhiều cuốn sách trở nên lỗi thời ngay tại thời điểm phát hành. Đó chính là điều khiến chúng tôi đắn đo khi bắt tay vào viết cuốn sách này năm 2004: Không phải những điều chúng tôi viết là không đúng mà vì các sự kiện thay đổi quá nhanh khiến độc giả không kịp chuẩn bị để đối phó với hàng loạt vấn đề xảy đến cùng một lúc. Giờ đây ngẫm lại, chúng tôi thấy lẽ ra mình không nên lo lắng như thế.
Thực tế cho thấy đồng đô-la Mỹ đang trượt giá trong khi giá vàng ngày càng tăng, và những nhà đầu tư nào làm theo các lời khuyên được trình bày trong cuốn sách này đã gặt hái được nhiều thành tựu. Thế nhưng, cuộc khủng hoảng tiền tệ toàn cầu diễn ra chậm rãi hơn so với những gì dự đoán trước đó, điều này cho phép độc giả có nhiều thời gian chuẩn bị để đón đầu một trong những cuộc cải tổ kinh tế lớn nhất của thời đại ngày nay: sự chấm dứt của kỷ nguyên tiền pháp định (fiat currency).
Hầu hết những luận điểm mà chúng tôi đưa ra cách đây hai năm không những vẫn còn nguyên giá trị mà càng trở nên hữu ích hơn. Hầu như tất cả các xu hướng dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính bi tráng này đều tiếp diễn, khiến cho sự mất cân đối toàn cầu vốn đã lớn, càng trở nên khủng khiếp hơn. Lấy ví dụ về tình trạng nợ nần chống chất của nước Mỹ, ấn bản 2004 của cuốn sách này đã minh họa điều đó bằng một biểu đổ ở trang sau.
Xin lưu ý, mãi đến thập niên 1980, tốc độ tăng trưởng GDP và tốc độ tăng nợ của Mỹ luôn song hành, điều này có nghĩa là tăng trưởng kinh tế luôn đi kèm với những khoản nợ mới. Khi đó, nước Mỹ là một xã hội hoạt động năng suất và chi tiêu trong phạm vi những gì nó có thể làm ra. Nhưng từ thập niên 1980, nước Mỹ cần đến những khoản nợ ngày càng lớn hơn để tạo ra tài sản mới, và đến năm 2003, biểu đồ đã trở thành bức tranh mô tả hình ảnh một người leo lên vách núi, nhằm ám chỉ tình hình chi tiêu vượt quá khả năng và vay mượn để bù đắp cho các khoản thiếu hụt đó.
Trong ba năm tiếp theo, thay vì nhận biết những rủi ro này và có biện pháp khắc phục, nước Mỹ lại tiếp tục vay mượn nhiều hơn bao giờ hết. Mặc dù biểu đồ sau đã được cập nhật và thoạt nhìn cũng ít nhiều giống với biểu đồ trước, nhưng hãy chú ý là các tỷ lệ đã thay đổi. Tỷ lệ nợ bình quân của một người Mỹ đã tăng từ mức chưa từng có tiền lệ là 130.000 đô-la lên mức hoàn toàn không thể kiểm soát được là 150.000 đô-la, tức 600.000 đô-la cho một gia đình bốn người. Tình trạng tương tự cũng diễn ra ở hầu như mọi xu hướng khác nếu chúng tôi quay ngược lại so sánh với năm 2004. Thâm hụt thương mại ngày càng lớn, nguồn cung tiền phát triển ngày càng nhanh, tỷ trọng hàng ngoại nhập tăng hơn hai lần và chi phí cho cuộc chiến tranh Iraq cũng như cho các cam kết với nước ngoài đang leo thang.
Giờ đây, cả thế giới đều thấy được điều gì đang diễn ra. Năm 2006, bong bóng nhà đất vỡ tung. Năm 2007, thị trường nợ chứng khoán hóa (securitized debt market) cũng nổ tung. Và khi điều này được viết ra vào tháng 11/2004 thì giá trị của đồng đô-la đã giảm đến mức thấp kỷ lục so với hầu hết các đồng tiền khác, trong khi vàng, một loại tiền mà các máy in tiền của chính phủ không thể tạo ra được, lại đang trải qua giai đoạn tăng trưởng cao nhất kể từ năm 1980.
Trước tình hình đó, các đối tác thương mại của Mỹ chủ động tìm kiếm cách “đa dạng hóa” nguồn dự trữ ngoại hối của mình chứ không chỉ có đồng đô-la như trước đây. Nói tóm lại, kịch bản đã được dựng sẵn, không chỉ cho sự suy giảm tiếp theo của đồng đô-la mà cho cả sự sụp đổ của đồng tiền này. Điều đó có nghĩa là sự xáo trộn cũng như các cơ hội kiếm lời trong những năm qua chỉ là bước khởi đầu cho những gì sắp xảy đến. Tuy nhiên, không phải chỉ có đồng đô-la sắp trở thành phế liệu. Vấn đề thực sự không nằm ở khả năng quản lý yếu kém của nền kinh tế Mỹ mà là cả một hệ thống quan điểm về tiền pháp định. Đơn cử một ví dụ, nếu như các chính trị gia có quyền in tiền để mua các lá phiếu, họ sẵn sàng làm thế. Chính việc thiếu nghiêm khắc trong quản lý tiền tệ đã dẫn đến tình trạng lạm cung tiền, làm cho giá trị của đồng tiền liên tục giảm sút cho đến khi không còn người dân nào hy vọng về nó nữa.
Trong quá khứ, điều này chỉ xảy đến với từng quốc gia riêng lẻ nhưng ngày nay, nó đang diễn ra ở khắp mọi nơi mà nạn nhân đầu tiên phải kể đến chính là đồng tiền đang thống thị thế giới, đồng đô-la. Và kết quả tất yếu là trong vài năm tiếp theo, cả thế giới sẽ phát hiện ra rằng các loại tiền pháp định, tức là tiền do chính phủ phát hành và quản lý mà không có cơ sở bảo chứng đầy đủ, là một sai lầm, và sẽ đồng loạt từ bỏ chúng. Vì thế, chúng ta vẫn còn cơ hội kiếm lời từ cuộc khủng hoảng tiền tệ sắp tới. Trên thực tế, hành trình này chỉ mới bắt đầu.
Đôi nét về cuốn sách: Khi cuốn sách này được cập nhật vào tháng 11 năm 2007 thì các thị trường tài chính đang bị kìm hãm bởi một cuộc khủng hoảng tín dụng mà khởi đầu là sự sụp đổ của thị trường cho vay thế chấp của Mỹ và đang lan rộng đến hầu hết mọi ngóc ngách của nền kinh tế toàn cầu.
Tài chính cấu trúc lớn/nhóm các nhà đầu cơ vay nợ thống lĩnh giới tài chính đã phát hiện ra rằng trái phiếu bảo chứng và các tài sản hiếm khác phụ thuộc vào nợ vay thế chấp (mortgage debt), vào khả năng thanh toán của ngân hàng hay tính ổn định của tỷ giá hối đoái hiện đang có giá thấp hơn rất nhiều so với dự đoán ban đầu. Còn những tổ chức nào đứng ra kinh doanh vay nợ để mua các loại tài sản ấy đã bắt đầu hứng chịu hậu quả. Các khoản thua lỗ khổng lồ trên thị trường cho vay thế chấp và những tài sản gá nợ khác mà các ngân hàng và tổ chức khác đã báo cáo trong những tháng gần đây chính là điềm báo cho những khó khăn còn tồi tệ hơn ở phía trước.
Nhìn chung, đối với những gì sắp xảy đến, người ta không thể nói chi tiết mà chỉ có thể dự đoán một cách tổng quát (rằng đồng đô-la và hầu hết các loại tiền pháp định khác sẽ rớt giá thê thảm), chúng tôi muốn xem cuốn sách này như một công cụ phân tích tổng quát chủ yếu dựa trên phiên bản gốc của nó, chỉ thay đổi một vài số liệu của năm 2003 bằng các số liệu mới hơn của năm 2006, 2007.
Nếu bạn muốn tiếp tục theo dõi tin tức thời sự với đầy đủ tên gọi, ngày tháng và phân tích về cuộc khủng hoảng tài chính này, hãy vào trang web của chúng tôi: www.goldmoney.com và www.dollarcollapse.com.
Trong quá trình thực hiện cuốn sách này, chúng tôi đã đưa ra một vài lựa chọn cần được giải thích. Để biết giá vàng và đô-la sẽ đi đâu, chúng ta cần nắm được quá trình biến động của chúng, vì thế chúng tôi đã trình bày một vài điểm quan trọng trong lịch sử tiền tệ.
Tuy nhiên, đánh giá một chủ đề rộng lớn như thế không phải là mục đích của cuốn sách này. Có nhiều vấn đề được nhắc đến nhưng không được giải thích cặn kẽ (chẳng hạn như chúng tôi sẽ không giải thích về tình trạng hỗn loạn tiền tệ sau Cách mạng Pháp). Tuy nhiên, để giúp độc giả nghiên cứu thêm, chúng tôi đã dành ra chương 22 với tên gọi “Thông tin hữu ích” để liệt kê tên một số các tác phẩm lớn trong lĩnh vực này.
Về một số khía cạnh hiện tại của đồng đô-la và vàng, chúng tôi có chút đối lập về quan điểm vì James không chỉ là tác giả cuốn sách này mà còn là người tham dự. Cho nên trong những chương liên quan, chúng tôi sẽ thay thế cách xưng hô “chúng tôi” bằng “James”, xem đó như một người thứ ba. Trong quá trình tổng hợp bối cảnh đồng đô-la sụp đổ, chúng tôi thỉnh thoảng gặp phải những vấn đề và dù không thật sự cần thiết cho nội dung cuốn sách này và hơi có tính chuyên môn nhưng chúng giúp hiểu rõ hơn hiện trạng của sự việc.
Vì thế, chúng tôi sẽ trình bày một số chủ đề như thế dưới dạng cột/khung phụ. Và có hai vần đề dù ít được sử dụng đến nhưng chúng tôi nghĩ cũng nên trình bày. Đó là: Tỉ giá hối đoái của vàng.Thông thường, khi vàng được nhắc đến trên các cổng thông tin tài chính, người ta thường đề cập đến “giá” của nó. Việc làm này không đúng bởi vàng không phải là hàng hóa thông thường như dầu hay trứng. Vàng chính là tiền.
Tục ngữ Trung Hoa có câu "trí khôn bắt đầu bằng việc gọi sự vật đúng với tên gọi của nó." Chúng ta không bao giờ nói về “giá” của đồng yên hay đồng euro mà thay vào đó, chúng ta thảo luận về tỉ giá hối đoái của chúng, cho nên trong cuốn sách này, chúng tôi cũng làm như thế đối với vàng, ví dụ “Tỷ giá hối đoái của vàng ngày 31/12 là $410 một ounce.” Ounce hay là gram. Ở Mỹ, troy ounce là đơn vị đo lường phổ biến nhất của vàng.
Tuy nhiên, quy ước này là một sự kế thừa lịch sử của Đế chế Anh, một đế chế mà bản thân vàng và tiêu chuẩn vàng đóng vai trò trung tâm. Sử gia người Anh, Niall Ferguson nhận xét: “Đế chế Anh đã chấm dứt từ lâu, chỉ có những thứ linh tinh vô giá trị là vẫn còn tồn tại.” Và chúng tôi tin rằng, một trong những thứ linh tinh vô giá trị đó chính là thói quen của người Mỹ khi quy trọng lượng vàng về đơn vị troy ounce.
Ngày nay, gần như toàn thế giới và kể cả Vương quốc Anh đều sử dụng hệ thống đo lường mét và theo đó, trọng lượng vàng được tính theo đơn vị gram, 1 gram bằng khoảng 1/31 troy ounce (chính xác là 1 ounce bằng 31.1034 gram). Vì thế, một mặt, chúng tôi giữ lại cách ghi theo đơn vị troy ounce để tránh sự nhầm lẫn, mặt khác, chúng tôi cũng quy ra đơn vị đo lường tương đương là “gram vàng” (gold gram: gg), ví dụ như “400 đô-la/oz. (12,86 đô-la/gram vàng).”
Sự sụp đổ của đồng Đô-la & Phương pháp tìm kiếm lợi nhuận từ nó là một cuốn sách không thể bỏ qua của mọi người và mọi nhà đầu tư. Trong cuốn sách này, James Turk và John Rubino sẽ chỉ cho các nhà đầu tư cách duy trí và làm tăng giá trị tài sản cho mình bằng việc đầu tư vào tiền vàng, cổ phiếu công ty khai thác vàng, và các loại tiền điện tử dựa trên vàng.
Hai bậc thầy tài chính này còn phác họa lợi nhuận tiềm năng cũng như rủi ro đi kèm; cách đưa vàng vào danh mục đầu tư tài chính; và chỉ ra những mặt lợi và bất lợi của việc mua cổ phiếu từ những quỹ đầu tư vào cổ phiếu công ty khai thác vàng.
Sự mất giá của đồng Đô-la đã làm tổn hại cho hàng triệu người Mỹ: giá trị thực sự của thu nhập cố định đã giảm; thị trường cổ phiếu một lần nữa lại được đánh giá quá cao so với thực tế; và trái phiếu - vốn gắn với đồng đô-la ngày càng mất giá đang đi đến một kết cục tồi tệ.
Được viết với phong cách rõ ràng và hết sức thực tiễn, cuốn Sự sụp đổ của đồng đô-la & cách tìm kiếm lợi nhuận từ nó sẽ giúp độc giả thấy được vì sao đầu tư vàng lúc này là cách an toàn nhất để đạt được sự thịnh vượng trong tương lai.
James Turk, chuyên gia phân tích vàng hàng đầu kiêm nhà sáng lập của GoldMoney.com và john Robino, biên tập của trang web DollarCollapse.com, sẽ giới thiệu các chiến thuật đầu tư vào tiền vàng, cổ phiếu vàng, các loại tiền điện tử tính theo vàng và những tài sản giá trị khác nhằm tạo ra một danh mục đầu tư có lãi.
Mời các bạn nghe audio book , tải về tại đây , Pass giải nén là : thuvienso.info.
Tác phẩm : Bí quyết tay trắng thành triệu phú Tác giả: Adam Khoo. Dịch giả: Nhiều Dịch Giả. Nhà xuất bản: Nxb Phụ Nữ
Giới thiệu về nội dung
Nếu bạn nuôi mơ ước tự mình tạo dựng một gia sản hàng triệu đô thì đã đến lúc bạn học cách biến giấc mơ đó thành hiện thực! Bạn không cần có tấm bằng kinh doanh ở trường Đại học Harvard, cũng không cần đến vận may hoặc rất nhiều vốn để làm giàu với một khát khao mạnh mẽ, tư duy triệu đô và những chiến lược kiếm tiền đúng đắn, ai cũng có thể trở thành triệu phú.
"Bí quyết tay trắng thành triệu phú" với cách tiếp cận thiết thực, toàn diện và hiệu quả, sẽ hướng dẫn bạn cách thức kiếm tiền, quản lý tiền bạc, Đây là quyển sách không thể thiếu đối với các doanh nhân, các nhà quản lý, các chuyên gia, nhân viên văn phòng và bất kỳ ai có khát vọng vươn tới đỉnh điểm tự do tài chính.
Đầu tư vào quyển sách này, bạn sẽ khám phá được những phương pháp làm giàu phong phú của chính tác giả Adam Khoo - một trong những triệu phú tay trắng làm nên trẻ nhất ở Singapore. Trong suốt 15 năm qua, Adam Khoo đã giúp cho hàng trăm ngàn người đạt được những thành công vượt bậc trong cuộc sống và kinh doanh, bất kể điểm khởi đầu của họ là từ đâu.
Bạn sẽ học được những chiến lược làm giàu đã được thử nghiệm và chứng minh hiệu quả như:
- Bảy bước dẫn đến mức độ dư dả tài chính
- Chín thói quen quản lý tiền bạc như thế nào
- Người giàu quản lý tiền bạc như thế nào
- Làm thế nào gia tăng nguồn thu nhập mà không cần phải nghỉ việc
- Làm thế nào gây dựng việc kinh doanh xoay vòng vốn nhanh tại nhà
- Làm thế nào quản lý tiền bạc và cắt giảm chi tiêu khoảng 20 - 35%
- Làm thế nào đạt mức lợi nhuận 12,08% từ thị trường chứng khoán với mức rủi ro cực thấp
- Làm thế nào tạo ra nhiều nguồn thu nhập qua kinh doanh, đầu tư và tài sản trí tuệ
- Cách thức thiết kế con đường làm giàu của bạn.
Mục lục của audio book
Giới thiệu Adam Khoo
Phần 1
Chương 01 - Bí Quyết Của Người Tay Trắng Làm Nên Triệu Đô
Chương 02 - 7 Bước Làm Giàu
Chương 03 - 9 Thói Quen Của Triệu Phú
Phần 2
Chương 04 - Người Giàu Quản Lý Tiền Bạc Như Thế Nào
Chương 05 - 4 Mức Độ Giàu Có
Phần 3
Chương 06 - Hãy Đưa Ra Mức Giá Cao Nhất
Chương 07 - Thời Gian Là Tiền Bạc
Chương 08 - Làm Thế Nào Để Tăng Thu Nhập Theo Cấp Số Nhân Trong Bất Cứ Lĩnh Vực Gì
Phần 4
Chương 09 - Gây Dựng Việc Kinh Doanh Sinh Lợi Mà Không Cần Làm Gì
Chương 10 - Biến Niềm Đam Mê Thành Nguồn Thu Nhập Bền Vững
Chương 11 - Cách Thức Xây Dựng Một Trang Web Sinh Lợi
Chương 12 - Làm Thế Nào Để Thu Hút Nhiều Khách Hàng Trên Mạng
Phần 5
Chương 13 - Nguyên Tắc Số 1 Của Những Triệu Phú Tay Trắng Làm Nên
Chương 14 - Cách Thức Quản Lý Tiền Và Kiểm Soát Chi Tiêu
Phần 6
Chương 15 - Tăng Tài Sản Với Lợi Nhuận Tiền Triệu
Chương 16 - Thắng Lợi Với Quỹ Đầu Tư
Chương 17 - Chọn Mua Cổ Phiếu Theo Cách Của Warren Buffett
Chương 18 - 8 Tiêu Chí Để Mua Cổ Phiếu Tốt Với Giá Hời
Phần 7
Chương 19 - Lên Kế Hoạch Trở Thành Triệu Phú
Vào khoảng cuối thế kỷ I, có một lạc thuyết nổi lên trong Giáo Hội, đó là thuyết Ngộ đạo. Thuyết này đề cao sự hiểu biết ("ngộ") : ai đã đạt đến trình độ hiểu biết cao sâu về Chúa thì sẽ bảo đảm được cứu độ. Ngày nay, có nhiều người cũng lầm tưởng rằng nếu "biết" giáo lý, "biết" lề luật, "biết" Thánh Kinh thì cũng bảo đảm được phần rỗi.
Bài Tin Mừng hôm nay xóa tan ngộ nhận ấy, cái "biết" có thể mang đến ơn cứu độ là cái "biết" do suy gẫm sách Thánh và kết hợp với Đức Giêsu Thánh thể. Bài trích thư thứ nhất Thánh Gioan cho thấy thêm một điều kiện nữa : không chỉ biết Chúa mà còn phải tuân giữ các giới răn của Ngài nữa thì mới được cứu độ.
* 2. Những cảm nghiệm Emmau
Vào chính ngày Đức Giêsu sống lại, có hai môn đệ chán nản rời Giêrusalem để về làng Emmau. Thánh Luca cho biết tên một người, đó là Clêôpát. Còn người kia thì Luca không nói tên. Chắc chắn không phải vì ông không biết, nhưng có lẽ vì người thứ hai ấy chính là Luca, hoặc cũng có thể vì một lý do gì khác. Ch. Perrot đã đoán lý do khác ấy là : "Người bạn của Clêôpát không được nêu rõ tên nhưng lại mang tên của mọi tín hữu". Nghĩa là, theo suy đoán của Ch. Perrot, Thánh Luca cố ý không nêu tên người môn đệ kia vì muốn coi người ấy là đại biểu của mọi tín hữu. Nói cách khác, bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có thể trải qua những cảm nghiệm của người môn đệ ấy.
Vậy chúng ta hãy đi vào tâm trạng của người môn đệ ấy, và chia xẻ những cảm nghiệm của ông.
1. "Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản nên không nhận ra Ngài" : Đây là cảm nghiệm thứ nhất, cảm nghiệm về tình trạng của Đức Giêsu phục sinh. Ngài luôn hiện diện bên cạnh chúng ta và luôn cùng đi với chúng ta. Chỉ có điều là cặp mắt xác thịt của chúng ta không thấy được Ngài, giống như có một bức màn ngăn cách giữa chúng ta với Ngài. Đến một lúc nào đó, nếu Ngài muốn, thì Ngài bỏ bức màn ấy xuống, khi đó không còn gì ngăn cản nữa thì chúng ta sẽ thấy được Ngài. Đối với hai môn đệ Emmau, đó là lúc ở trong lữ quán, "mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Ngài".
2. Vậy nhờ cái gì mà tấm màn ngăn cách chúng ta với Đức Giêsu phục sinh được cất đi để chúng ta nhận ra Ngài ? Cảm nghiệm của hai môn đệ Emmau cho thấy nhờ hai điều :
a/ Điều thứ nhất là nhờ suy gẫm Sách Thánh : "Ngài giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Ngài trong tất cả Sách Thánh". Sau này hai ông nhớ lại cảm giác lúc đó : "Dọc đường khi Ngài nói chuyện và giải thích Sách Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên đó sao ?".
b/ Điều thứ hai là Bí tích Thánh Thể : "Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Ngài".
Sách Thánh đã làm cho những cõi lòng lạnh giá chán chường bừng cháy lên, Bí tích Thánh Thể khiến cho bức màn ngăn cản cặp mắt xác thịt hạ xuống.
*
Thực ra chúng ta đã nhiều lần đọc Sách Thánh và tham dự Bí tích Thánh Thể. Nhưng tại sao khi đọc Sách Thánh lòng chúng ta không "cháy bừng lên", và khi tham dự Thánh Lễ mắt chúng ta không "mở ra" ? Thưa vì chúng ta đọc Sách Thánh như đọc về Đức Giêsu chứ không phải đọc với Đức Giêsu như hai môn đệ Emmau ; và chúng ta dâng Thánh Lễ như dâng lên cho Ngài chứ không phải cùng dâng với Ngài.
Chúng ta có thể làm mọi việc với Ngài, bởi vì Đức Giêsu phục sinh luôn hiện diện bên cạnh chúng ta và luôn cùng đi với chúng ta trên mọi nẻo đường đời. Ngày xưa đối với hai môn đệ Emmau cũng thế và ngày nay cũng vẫn thế.
* 3. Cuộc sống mới của các môn đệ
Có thể nói sau khi Đức Giêsu chết thì các môn đệ cũng chết luôn, chết về mặt tinh thần và về luân lý : nhóm 12 đã rã rời, vì Giuđa đã tự vẫn, Tôma đã bỏ đi do khủng hoảng đức tin, những người còn lại thì co cụm với nhau trong căn phòng đóng kín cửa, lòng họ đầy sợ hãi, nghi ngờ, mặc cảm tội lỗi, buồn phiền và thất vọng.
Nhưng ngay sau khi sống lại, Đức Giêsu phục sinh cũng làm cho họ sống lại : Ngài chủ động đến với họ chứ không chờ họ đi tìm Ngài, Ngài không nói một lời trách móc nhưng lại chúc bình an, Ngài ăn uống với họ để họ tin chắc Ngài vẫn sống, Ngài mở trí cho các ông hiểu ý nghĩa Thánh Kinh, Ngài lại còn sai họ ra đi rao giảng cho muôn dân. Tất cả những việc làm tế nhị và yêu thương ấy đã giúp cho các môn đệ
• không còn sợ hãi
• không còn nghi ngờ
• không còn mặc cảm tội lỗi
• không còn buồn phiền
• không còn thất vọng
Con người cũ của các ông không còn, các ông như được sống lại trong con người mới, sẵn sàng ra đi khắp nơi loan báo Tin Mừng phục sinh cho mọi người.
* 4. "Hãy nhìn chân tay Thầy"
Một người con kia rất yêu thương cha mình. Người cha là một nông dân, suốt đời cần cù lao động để nuôi sống gia đình. Khi người cha chết đi, lòng người con rất buồn rầu. Anh cứ đứng gần thi thể của cha mà nhìn, nhất là nhìn đôi bàn tay của cha. Anh nói : "Nhìn đôi bàn tay sần sùi chai sạm ấy, tôi nhớ lại tất cả những cực nhọc khổ sở mà cha tôi đã chịu vì yêu thương tôi"
Khi hiện đến với các môn đệ, Đức Giêsu cũng bảo họ hãy nhìn chân tay Ngài, những chân tay không phải chai sạm mà đầy những thương tích. Nhìn không phải chỉ để xác nhận Đức Giêsu hôm nay cũng chính là Đức Giêsu hôm qua bị đóng đinh, mà còn để nhận ra tình thương bao la vô bờ bến của Ngài : "Không có tình thương nào lớn hơn tình của người thí mạng sống cho người mình thương".
Khi hiện ra với Tôma, Đức Giêsu cũng bảo ông hãy chạm đến các vết thương của Ngài, rồi Ngài nói : "Đừng hồ nghi nữa, nhưng hãy tin" (Ga 20,28). Tin gì ? Không chỉ tin là Ngài đã sống lại, mà còn tin vào tình thương của Ngài.
Tình Chúa thương ta là một điều chắc chắn, đã được đóng dấu bằng những vết thương trên thân xác Ngài. Chúng ta hãy tin chắc như thế, không có gì lay chuyển được.
* 5. Biến cố làm đảo lộn lịch sử thế giới
Trong những ngày ấy, có hai người bước trên đường về Emau, một làng cách Giêrusalem vài cây số. Về Emau, có nghĩa là trở về hư vô, về cõi của những niềm hy vọng đã tan vỡ. Họ kiệt lực rồi, họ hết còn mơ mộng, họ cũng đã hết nhiệt tình. Trước đây, họ đã đi theo phong trào Giêsu với tất cả nhiệt huyết, họ cứ chắc mẩm rằng họ sẽ giải phóng thế giới khỏi cái ác, giải phóng dân tộc họ khỏi giới quí tộc Đền thờ và khỏi ách đô hộ La Mã.. Nhưng nay thì hết rồi Thầy đã chết, chết quá dễ dàng không một biểu hiện tự vệ. Các thủ lãnh phong trào Giêsu, những bạn đồng hành thân cận nhất của Thầy, những người mà Thầy tín cẩn, cũng đã lánh mặt vì khiếp nhược, vì thất vọng. Có người thậm chí còn bảo, anh Phêrô nhiệt tình là thế, bao giờ cũng tranh ăn trên nói trước, thế mà người ta bảo anh đã thề độc, đã chứng minh anh không hề quen biết Giêsu.
Thế là hết. Hai anh tưởng đã được tham dự vào một cuộc phiêu lưu độc đáo, khiến cho đời các anh có một ý nghĩa rực sáng, mở ra cho hai anh, mở ra cho mọi người một tương lai chan chứa niềm vui và niềm hy vọng. Vậy mà giờ đây họ chỉ còn những nuối tiếc, hận đời và dằn vật.
Một người khách lạ nhập bọn với hai anh, bảo hai anh kể cho ông ta nghe về những nỗi buồn và niềm bất hạnh của họ. Cái ông khách này là một người hiếm hoi, biết nghe người khác nói. Rồi ông ta giải thích cho hai anh nghe về lịch sử thế giới, bắt đầu bằng kể về ông Môisê và các ngôn sứ. Hai anh thấy lòng ấm dần lên, cởi mở dần ra. Đầu óc của hai anh, chậm hiểu hơn trái tim, chỉ nhận ra Ngài sau khi cùng Ngài chia sẻ bữa tối và sau khi Ngài khuất dạng.
Thế là hai anh quay lại, bước ra khỏi tăm tối và hư vô, trở về Giêrusalem. Những người các anh gặp lại ở Giêrusalem cũng đã từng trải qua những thất vọng não nề... Vậy mà những con người thảm hại ấy bỗng đứng lên, mạnh dạn tuyên bố rằng Đức Kitô đang sống, và bằng chúng thuyết phục nhất là chính họ đã thấy Ngài, thậm chí đã cùng ăn uống với Ngài.
Những điều họ nói, thật ra không phải một bằng chứng bằng chứng thuyết phục nhất là chính họ, những người thấp hèn, nhát gan, ít chữ nghĩa, nay dám đương đầu với mọi hiểm nguy và làm phục sinh lại phong trào Giêsu. Đến đâu họ cũng nhắc lại những lời yêu thương và giải phóng, những lời không hẳn được tất cả mọi người nghe theo, nhưng là những lời đã thay đổi lịch sử thế giới.
Vậy thì, trong những ngày ấy, đã có một biến cố xảy ra, như một vụ bùng nổ, làm xuất hiện niềm tin và thay đổi cuộc đời những người này. Đối với họ, biến cố đã xảy ra đó là, Đức Giêsu đang sống. Đức Giêsu đã phục sinh, và họ đã loan truyền cái tin ấy đến nỗi dám hy sinh cả mạng sống. Chẳng ai có thể đưa ra những bằng chứng để chứng tỏ điều đó. Ai cũng có quyền nghi ngờ. Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã rao giảng thì tôn trọng tự do của con người đến độ đẻ họ nghi ngờ và phủ nhận Ngài... Tuy nhiên, trong những ngày ấy, một biến bố đã xảy ra làm đảo lộn những người đàn ông, những người phụ nữ ấy, và đã làm đảo lộn thế giới. Jacques Duquesne (Nhà văn Pháp)
* 6. Đời sống chứng nhân
Albert Schweitzer là một cậu bé rất thông minh, lại say mê âm nhạc. Khi trưởng thành cậu chơi đàn Organ, và cuối cùng đã trở thành Tiến sĩ âm nhạc. Sau đó, Albert nghiên cứu các chủ đề về tôn giáo, và đã đậu Tiến Sĩ Triết Học. Ông làm Hiệu Trưởng trường Đại Học.
Như thể học chưa đủ, ông từ chức Hiệu trưởng để theo ngành y khoa, 7 năm sau, trở thành bác sĩ với bằng Tiến sĩ Y Khoa. Với 3 bằng cấp Tiến sĩ, Albert Schweitzer dễ dàng trở thành một người giàu có, và nổi tiếng.
Thế nhưng, tiến sĩ Albert Schweitzer lại cùng với người vợ bán tất cả gia tài, sang tận Châu Phi thiết lập một bệnh viện ở Lambarene. Ông cứu giúp hàng ngàn người phong cùi và những người mắc bệnh buồn ngủ.
Ông huấn luyện y tá và điều dưỡng để phụ giúp ông. Khi hết tiền mua thuốc, ông trở về Âu Châu, trình diễn âm nhạc trong thành phố lớn, lấy tiền vé vào cửa để trả tiền mua thuốc cho bệnh viện của ông ở Lambarene. Ông tin rằng những người nghèo ở Châu Phi đều là những thành viên trong gia đình Thiên Chúa. Ông được giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 1953.
Sau khi dâng hiến cả cuộc đời cho người Châu Phi nghèo khổ, nhà truyền giáo đã đi về nhà Cha năm 1965 lúc 90 tuổi.
Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu Phục sinh kêu gọi các môn đệ hãy làm chứng nhân cho Người.
Chúng ta hãy là chứng nhân của sự sống mới. Thế giới ngày nay quay cuồng trong nỗi chết. Cái chết của chiến tranh, khủng bố khiến người ta chết không toàn thây. Cái chết của sida, ma tuý làm người ta chết không ra con người. Cái chết của phá thai, tự vẫn như cướp quyền Đấng Tạo Hóa. Người tín hữu Kitô phải làm chứng cho sự sống mới.
Sự sống của Đấng Phục sinh : Lôi cuốn, hấp dẫn gấp ngàn lần nỗi chết quay quắt điên loạn của con người. Sự sống của Đấng Phục sinh tràn đầy niềm hy vọng. Nếu Đức Kitô bị đóng đinh đã sống lại ra khỏi mồ, thì chúng ta có quyền tin tưởng vào chiến thắng của Người trên bạo lực, hận thù và nỗi chết.
Chúng ta hãy là chứng nhân của niềm vui. Nếu các môn đệ buồn phiền vì Thầy đã chịu khổ hình, thì các ông lại vui mừng biết bao khi nghe tin Thầy sống lại. Nếu các môn đệ lo âu vì sợ người ta đã giết Thầy sẽ bắt luôn cả trò, thì các ông lại trọn niềm hân hoan khi thấy Thầy sống lại ra khỏi mồ. Nếu chúng ta thực sự ra khỏi nỗi âu lo về mình, chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui. Nếu chúng ta mang lại nụ cười cho những người bất hạnh, chúng ta đang công bố tin vui Phục sinh.
Đức Hồng Y Danielou có nói : "Chúng ta hãy tự khai mở niềm hy vọng của người bất hạnh, cho dù điều đó đe dọa đến của cải chúng ta".
Cha Charles de Foucauld quả quyết : "Chỉ có một số người có khả năng làm chứng bằng lời nói, nhưng mọi người đều có thể làm chứng bằng đời sống lương thiện, gương mẫu, và bằng đời sống Kitô hữu sinh động".
Trong nghi thức rửa tội của Giáo hội Ấn Độ, người chịu phép Rửa tội đặt tay lên đầu và nói : "Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin mừng" (1Cr.9,16).
Vậy lời rao giảng Tin mừng sinh động nhất, hữu hiệu nhất và cao đẹp nhất chính là một cuộc đời quên mình phục vụ như nhà truyền giáo Albert Shweitzer đã làm cho những người phong cùi Châu Phi.
Lạy Chúa,
Khi chúng con u sầu, xin đem đến một ai đó để chúng con an ủi. Khi gánh nặng đè bẹp, xin chất thêm cho chúng con gánh nặng của người khác nữa.
Khi chúng con cần sự âu yếm vỗ về, xin cho người khác kêu gọi chúng con đến để vỗ về âu yếm họ.
Xin dạy chúng con trở nên chứng nhân của một Thiên Chúa phục vụ và yêu thương. Amen.
Thánh Ca : Tâm Tình Phó Thác
CHÚNG TA CẦN ĐỨC TIN
Msgr. Edward Peter Browne
L. M. Gioan Trần Khả chuyển dịch
Trong trường hợp đặc biệt, rất ít xẩy ra, tôi đi ra chợ để mua sắm cái tôi cần. Tôi có ý nói là mua cái tôi cần, như là một đôi vớ hay kem đánh răng hay một thứ gì giống như thế. Tôi luôn luôn ngỡ ngàng khi tôi đi ra chợ và nhìn thấy hàng ngàn vạn mặt hàng trong các cửa tiệm mà tôi không cần và cũng chẳng muốn có. Đối với tôi những thứ đó chỉ là đồ thừa. Ai thèm nó? Tuy thế, ở bất cứ giờ nào trong ngày mà bạn ra chợ, bạn thấy luôn luôn có hàng trăm người đi rảo quanh các cửa hàng với những gói hàng và giỏ đồ mua sắm, mua cái này cái nọ và những món khác.
Tôi tin rằng chúng ta đã đi vào một xã hội nơi mà những cái trước đây chúng ta muốn thì bây giờ chúng lại trở nên những thứ chúng ta nghĩ là cần thiết. Trước đây tôi thường thích có những món đồ chơi, bây giờ tôi cảm thấy mình cần có chúng. “Tôi thật cần phải có cái áo đó, có tất cả những loại mốt áo quần đó, tối cần phải có chúng.” Thực ra, bạn chẳng cần phải có. Đó là cái bạn muốn có. Cái muốn trở thành cái cần. Chúng ta lầm lẫn về cái gì quan trọng và cần thiết và cần phải có và bắt đầu suy nghĩ đến cái hưởng thụ. Thí dụ, hãy ngừng lại và suy nghĩ về tất cả những cái mà bạn có và xét xem bao nhiêu cái bạn thực sự cần thiết. Bạn cần thực phẩm, bạn cần áo quần, bạn cần nơi trú ngụ. Nhưng hãy nhìn đến những cai chung quanh trong nhà của bạn, những đồ trang trí, những kỷ vật nho nhỏ, và thấy bạn có nhiều thứ bạn không cần. Nhưng vì xã hội thời đại sung túc chúng ta cảm thấy chúng ta cần có cái này, có cái kia. Như tôi nói, hầu hết bạn không cần những cái bạn có.
Nhưng có một cái chắc chắn bạn cần, ai cũng cần, chúng ta mọi người đều cần. Chúng ta cần có Đức Tin. Đức Tin là điều tối cần không thể thiếu vắng. Khi nói về đức tin, người ta nghĩ về vài giáo thuyết tôn giáo trừu tượng, vài tư tưởng liên quan đến đời sống tôn giáo hay giáo lý về tôn giáo và như thế cũng có phần đúng.
Thánh Phao-lô, trong thư gởi tính hữu Do Thái, nói, “Không có đức tin, thì không thể làm hài lòng Thiên Chúa.” Nếu bạn bỏ ba chữ cuối của câu nói đó, thì nó nghe như sau, “Không có đức tin thì không thể.” Không thể cái gì? Hầu như là không thể mọi cái nếu không có đức tin. Tôi sẽ đan cử một thí dụ. Ví như bạn là một thương gia và bạn muốn bắt đầu một việc buôn bán. Bạn phải tin đây là cơ hội tốt, một cơ hội có thể sinh lời, việc buôn bán thương mại, sản phẩm hay cách phục vụ của bạn đáp được nhu cầu của khách hàng. Bạn phải tin là mình sẽ thuê mướn được những nhân viên làm việc tín cẩn. Bạn phải tin là có các khách hàng ngoài thị trường muốn mua sản phẩm hay cần đến sự phục vụ mà bạn muốn cung cấp. Bạn cần phải tin. Nếu không thì tại sao lại phải bận tâm lo mở cơ sở thương mại. Nếu bạn không tin là nó sẽ có thể hoạt động được thì bạn sẽ không làm. Nhưng chỉ có tin không thì chưa đủ. Bên cạnh việc có lòng tin, việc buôn bán phải hoạt động được, một thương gia phải học hỏi, ông ta phải dùng tài năng, sức lực, những cố gắng của mình để làm cho cái ông tin trở thành sự thực.
Đúng như vậy, ví dụ, trong việc giáo dục. Chúng ta có nhiều kiến thức sẵn trong thế giới ngày nay. Không một người nào trong chúng ta, ngay cả một nhóm đông trong chúng ta có thể hiểu tất cả các kiến thức hiện có trên thế giới, bởi thế chúng ta cần phải tin là một ai đó sẽ cho chúng ta sự hiểu biết này. Chúng ta phải tin vào người viết sách. Chúng ta phải tin vào thầy cô. Chúng ta phải tin vào hệ thống trường học. Đôi khi việc tin đó không bảo đảm. Chúng ta không được như lòng mong muốn, nhưng vẫn cần phải tin là điều này sẽ được thực hiện. Chúng ta sẽ được giáo dục, và chúng ta sẽ thành công trong đời. Tuy nhiên có niềm tin tưởng như thế chưa đủ. Chúng ta còn phải học hành. Chúng ta phải làm việc; chúng ta phải làm bài thực tập. Chúng ta phải làm tất cả những gì liên quan đến sự thành công, bởi thế có niềm tin không chưa đủ. Chúng ta còn phải đem thực hành và nỗ lực vào trong đó nữa.
Trong tôn giáo cũng đúng như thế. Chúng ta có niềm tin nơi Thiên Chúa. Trong ba bài đọc của Thánh Lễ hôm nay, tất cả đều nói lại việc Đức Giêsu đã truyền dạy rằng ngài là Đấng Cứu Thế. Ngài đã dẫn chứng ngài là Đấng Cứu Thế. Ngài đã suy tư và nói với họ rằng “Đây là điều sẽ xẩy ra. Tôi sẽ chịu đóng đinh và sau ba ngày sẽ sống lại từ cõi chết.” Và họ đã không tin. Hậu qủa là họ đã chẳng làm gì cả.
Trong bài đọc Tông Đồ Công Vụ hôm nay, Thánh Phê-rô nói: Anh em đã giết Đấng khơi nguồn sự sống. Anh em biết điều đó. Các tiên tri đã nói về việc ấy. Anh em tin là Đấng Cứu Thế sẽ đến và chịu khổ hình; tuy vậy khi thời điểm đến để làm theo thì anh em đã không làm. Anh em để cho Ngài bị án tử. Vậy anh em hãy xám hối và trở lại cùng Thiên Chúa. Bây gở Đức Kitô đã sống lại, anh em có đức tin, anh em có thực chất của đức tin; do đó hãy sửa đổi cuộc sống. Quay về với Thiên Chúa, để tội lỗi của anh em được tẩy rửa.
Trong bài đọc hai, thánh Gioan nói: Chúng ta có Đức Giêsu Kitô, Đấng Bảo Trợ công chính. Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta . . . Căn cứ vào điều này, chúng ta nhận ra rằng chúng ta biết Thiên Chúa, đó là chúng ta tuân giữ các điều răn của Người. Dùng chữ đức tin thay cho chữ biết ở câu nói trên: Chúng ta nhận ra rằng chúng ta tin Thiên Chúa, đó là chúng ta tuân giữ các điều răn của Người. Chúng ta nhận ra ngay là không phải chỉ tin nhưng còn phải làm. Có Đức Tin nơi Chúa, tin tưởng, chấp nhận và chu toàn các giới răn. Tu sửa cuộc sống.
Bài Tin Mừng cũng nói giống như vậy. Sám hối sửa đổi cuộc sống, tuyên nhận Đấng Cứu Thế, ăn năn đền tội và làm nhân chứng cho Đức Giêsu Kitô. Hãy tin nơi Ngài. Đức Tin là điều cần thiết. Đức Tin không việc làm tốt thì vô dụng.
Hãy hỏi người ta, “Bạn có tin Thiên Chúa không?” “Ô, dĩ nhiên là tin chứ!” “Bạn có phải là người Công Giáo không?” “Có, tôi là người Công Giáo.” “Bạn có tin tất cả các giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo không?” “Có, tôi tin chứ.” “Bạn có thực hành các điều đó không?” Đó là chuyện khác. “Bạn có giữ các giới răn không? Bạn có tránh tội lỗi không? Bạn co nhìn nhận điều này và điều nọ là tội lỗi và quyết định không làm theo không? Bạn có nghĩ Thánh Lễ thực sự là hiến tế của Chúa Giêsu trên Thập Giá không?” “Ô, có chứ, tôi tin như vậy.” “Tin như thế thì tại sao lại không đi lễ đúng giờ? Tại sao không ở lại cho đến hết lễ? Nếu bạn thực sự tin, bạn sẽ để tâm chú ý.” Và người ta nói, “Tôi chán nhà thờ. Tôi đi nhà thờ nhưng thấy chán chường.” Đó là vì bạn không nỗ lực để tìm hiểu xem Thánh Lễ là gì, bạn không hiểu bởi vì bạn không thực hành. Không thực hành thì đức tin trở nên vô dụng. Nó chẳng sinh hoa trái gì được.
Đôi khi tôi thấy buồn cười khi gặp những người trong cuộc sống, không nhất thiết là sống buông thả những là hững hờ, và đôi chút lung túng tội lỗi, và họ sám hối thay đổi và trở nên giống như các môn đệ trong bài đọc hôm nay. Khi họ nhận ra đây là Chúa Giêsu Kitô hiện diện ở giữa họ như lời Ngài đã hứa trước đây, thì họ đã rất đỗi vui mừng và ngạc nhiên. Tôi thấy điều này thường xuyên. Như tôi nói, những người này trước kia hững hờ, cũng có thể là tội lỗi, không nhất thiết là buông thả bê tha hay là thuộc hạng như thế. Rồi họ có sự thay đổi. Họ sửa đổi cuộc sống. Họ ăn năn đền tội. Đột nhiên họ trở nên vui tươi, bình an và hạnh phúc. Bây giờ họ có thể hiểu Đức Kitô là ai, họ có thể hiểu các giáo huấn của Giáo Hội. Họ có thể hiểu rằng các giáo huấn của Đức Kitô không có nghĩa là phiền hà hay gánh nặng, nhưng các giáo huấn của Ngài có nghĩa là đem lại niềm vui, sự anh bình và viên mãn trong Thiên Chúa. Nhưng người này trở nên như không thể tin được. “Nếu trước kia tôi biết cái mà tôi biết bây giờ thì tôi đã thay đổi cuộc sống từ lâu rồi.” Nhưng cũng có những người chỉ trôi dạt theo dòng đời. Họ nói là có đức tin, nhưng chẳng làm gì để áp dụng đức tin đó. Kết qủa là họ không tìm thấy sự viên mãn và niềm vui phục sinh của Đức Kitô.
Tôi muốn xin bạn suy tư vài phút và xét xem có bao nhiêu cái ở đời này không thực sự cần thiết và bạn có thể sống mà không có chúng. Bạn có thể quảng đại dâng cho Thiên Chúa và cho nhà thờ mà vẫn sống ngon lành. Bạn có thể chăm chỉ ý thức tránh xa tội lỗi, bạn có thể chă m chỉ ý thức tuân giữ các giới răn, bạn có thể chăm chỉ ý thức học hỏi các giáo huấn của Đức Kitô và Giáo Hội của Ngài. Tôi bảo đảm khi làm như vậy, bạn sẽ được sung sướng hạnh phúc không tưởng tượng được. Thiên Chúa sẽ chúc phúc cho bạn với các ơn lành và bạn sẽ được tràn trề hạnh phúc mà đức tin và các việc tốt lành mang lại cho đời sống của bạn.
Truyền thuyết cổ của người Hindu kể lại rằng, ngày xưa tất cả con người đều có một quyền năng hết sức to lớn, nhưng họ lại quá lạm dụng sức mạnh của mình đến nỗi vị thần Brahma, vị thần tối cao, quyết định tước bỏ toàn bộ quyền năng Tạo hóa đã ban cho họ. Tuy nhiên, lúc này có một vấn đề khó khăn nảy sinh: Làm thế nào tìm ra nơi thích hợp để giấu phần quyền năng ấy đi?
Brahma liền triệu tập tất cả các vị thần tối cao trong một hội nghị để xem xét vấn đề này. Giải pháp đầu tiên của họ là: "Chúng ta sẽ giấu quyền năng của con người lên đỉnh của ngọn núi cao nhất thế giới". Nhưng Brahma không đồng ý, bởi vì sớm hay muộn thế nào con người cũng trèo được lên ngọn núi ấy và tìm ra nó.
Sau khi suy nghĩ kỹ càng hơn, họ lại đề nghị: "Chúng ta sẽ giấu quyền năng của con người vào nơi sâu nhất, khó tới nhất giữa lòng đại dương bao la". Nhưng Brahma cũng không chấp nhận, bởi một ngày nào đó con người sẽ chế tạo được các phương tiện tối tân có thể giúp họ thám hiểm những nơi tận cùng của thế giới.
Cuối cùng sau nhiều tranh cãi, các vị thần tối cao đành lắc đầu: "Chúng ta không biết nên giấu nó vào đâu, bởi vì dường như bất cứ nơi nào trên trái đất này con người đều có thể tìm ra được". Đắn đo khá lâu, cuối cùng Brahma tuyên bố: "Ta biết phải giấu quyền năng của họ vào đâu rồi, ở một nơi con người sẽ không bao giờ nghĩ tới... Chúng ta hãy giấu nó vào ngay trong chính bản thân họ".
Và kể từ đó, con người vẫn không ngừng đi khắp nơi trên thế gian. Họ trèo lên những ngọn núi cao nhất, thám hiểm cả đáy đại dương, họ lật tung tất cả mọi thứ để tìm kiếm cái mà họ gọi đó là "quyền năng". Tất nhiên, nó vẫn nằm ngay đó, nơi con người không bao giờ ngờ tới: Trong chính bản thân họ!
"Quyền năng vô hạn -- What the bleep do we know" đưa bạn đi sâu hơn vào khía cạnh khoa học của Luật hấp dẫn, đó chính là Vật lý lượng tử. Những nhà tôn giáo, nhiều nhà triết học và các chuyên gia về thành công đã tìm được tiếng nói chung trong bộ phim này. Với sự kỳ diệu của bộ não con người, cùng với sức mạnh vô song của lòng tin, con người sẽ tạo được kỳ tích nếu họ biết vận dụng Quyền năng vô hạn của mình.
Những gì bạn nhìn thấy ở thế giới bên ngoài, chỉ phản ánh những mô thức được cài đặt sẵn trong não bộ. Bạn chính là người sáng tạo ra thực tại tự trong tâm thức. Thay đổi được tư duy là bạn đang trên bước đường thay đổi cuộc đời mình.
Nếu bạn đã từng say mê "Bí mật" -- "The secret" thì "Quyền năng vô hạn -- What the bleep do we know" chính là cơ sở lý luận cho bạn hiểu sâu hơn và vận dụng Luật hấp dẫn tốt hơn để đạt được một cuộc sống tự do tâm linh, giàu có và hạnh phúc trọn vẹn.
Khi hiện ra với các môn đệ, Chúa Giêsu phục sinh vẫn còn mang những thương tích của cuộc thụ nạn. Điều này có ý nghĩa gì? Câu chuyện sau đây có thể cung cấp vài tiêu điểm giúp chúng ta tìm hiểu.
Chuyện kể về một góa phụ lao động ở thành phố New York. Trong khoảng thời gian 6 năm, bà đã chứng kiến cảnh 3 đứa con của mình bị bắn chết, đứa nhỏ nhất bị bắn ngay trước cửa nhà bà. Những cảnh ấy đã để lại một vết thương sâu đậm trong lòng bà, và vết thương ấy cứ như sống lại làm bà nhức nhối mỗi lần bà nghe tin có một ai đó bị giết chết. Tuy nhiên bà không để mình bị trói buộc trong nỗi sợ hãi. Trái lại bà tìm cách đến với người khác. Bà đi diễn thuyết khắp nơi và trở thành một nhà hùng biện tranh đấu cho việc kiểm soát vũ khí. Bà lập một hiệp hội gồm những phụ nữ cùng hoàn cảnh với Bà. Mỗi khi có một đứa con bị giết chết, bà đến thăm và an ủi cha mẹ chúng. Bà cho biết ban đầu bà ước sao cho những đứa trẻ vô tội ấy đừng sinh ra còn hơn. Nhưng bây giờ thì bà nói: "Hẳn nhiên trong cái chết của chúng có một nỗi buồn phiền, thế nhưng cũng có một niềm vui không thể tin được. Nếu tôi đã không có 3 đứa con bị giết thì tôi đã không là một con người như hôm nay. Chúng giúp tôi mạnh mẽ, chúng giúp tôi sống không ích kỷ". Khung cửa nhà bà vẫn còn lại những vết đạn đã bắn chết đứa con út của bà. Tuy nhiên bà không cho sửa lại khung cửa ấy. Tại sao? Bà nói "Tôi muốn những lỗ đạn ấy còn mãi ở đấy để nhắc cho mọi người nhớ là có người đã bị giết chết ngay chỗ ấy. Nếu sửa lại thì người ta sẽ quên".
"Khi sửa lại thì người ta sẽ quên". Có lẽ đó là lý do tại sao Chúa Giêsu phục sinh vẫn giữ lại những vết thương của cuộc chịu nạn. Trước hết, những vết thương ấy giúp các môn đệ nhận ra Ngài: Đấng hôm nay chiến thắng sự dữ vẫn là một với Đấng hôm trước đã chịu nạn chịu chết để nhờ đó Thiên Chúa chiến thắng cái chết. Thứ hai, những vết thương ấy là bằng chứng tình yêu của Ngài. Chúa Giêsu không chỉ nói suông về tình yêu, Ngài đã chịu đau khổ để làm chứng cho tình yêu. Đó là những thương tích mà Người mục tử chịu đựng để bảo vệ đàn chiên yêu quý của mình.
Chúa Giêsu không dấu những thương tích. Ngài cho Tôma thấy và mời ông chạm vào. Khi Tôma chạm vào đấy, nỗi hoài nghi của ông tan biến và đức tin của ông sống lại.
Những thương tích thánh thiện của Chúa Giêsu là nguồn an ủi, nguồn can đảm và nguồn hy vọng của chúng ta. Chúng giúp ta chịu đựng đến cùng những thương tích của chúng ta. Chúng bảo ta đừng sống ích kỷ. Nhờ những thương tích của Ngài, chúng ta được chữa lành khỏi chứng bệnh tự thương xót mình và mặc cảm là nạn nhân.
Người ta có khuynh hướng che giấu những thương tích vì nghĩ rằng người khác mà thấy được sự yếu ớt của mình thì sẽ không còn kính trọng mình. Tuy nhiên những kẻ dám cho người khác biết những cuộc chiến đấu của mình thì sẽ là một nguồn an ủi cho người khác. (FM)
* 2. Tần số tình yêu
Người cha dắt đứa con nhỏ đi dạo ngang qua một đài phát thanh của thành phố. Đứa bé chỉ ngọn tháp cao vút hỏi người cha:
- Ba ơi! Cái tháp đó để làm gì vậy?
Người cha giải thích:
- Con ạ! Đó là ăng-ten của đài phát thanh, hàng giây hàng phút nó phát đi những tin tức, âm nhạc và các chương trình hữu ích cho đại chúng.
- Nhưng thưa ba, con có nghe thấy gì đâu!
- Muốn nghe được những thông tin và các chương trình bổ ích đó, con chỉ cần có một cái máy thu thanh thật tốt, mở đúng tần số là con sẽ nghe rõ ràng, như cha con mình đang nói chuyện với nhau đây!
*
Chiều Phục Sinh đầu tiên, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ, vắng mặt Tôma, một con người thực tế, muốn kiểm chứng bằng mắt thấy, tai nghe, tay sờ thì mới tin. Tám ngày sau, Đấng Phục Sinh lại hiện ra với các ông, có cả Tôma. Người gọi đích danh ông: "Tôma, hãy nhìn xem tay Thầy, hãy đặt ngón tay vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin" (Ga 20,27). Ông chỉ còn biết run sợ mà thưa với Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con" (Ga 20,28).
Tại sao Gioan chỉ cần nhìn thấy ngôi mộ trống và tấm khăn liệm xếp gọn gàng là ông đã tin Thầy sống lại, còn Tôma đã được các môn đệ làm chứng Thầy đã phục sinh mà ông lại không tin. Vậy điều khác nhau cơ bản giữa Gioan và Tôma chính là chiếc máy thu thanh của Tôma không mở đúng tần số. Đó là tần số tình yêu, tần số của con tim. Tôma đòi phải xỏ tay vào lỗ đinh ở chân tay Thầy ông mới tin; còn Gioan, không cần thấy Thầy bằng con mắt thịt nhưng bằng con mắt đức tin, con mắt tình yêu. Chính tình yêu đã khiến Gioan chạy đến mộ Thầy nhanh hơn Phêrô, chính tình yêu đã mở mắt cho Gioan nhận ra Thầy đầu tiên trên bờ biển Galilê, chính tình yêu đã làm cho ông trở nên "người môn đệ Chúa Giêsu thương mến" (Ga 21,7).
Tại sao Phêrô và Gioan đều thấy ngôi mộ trống và khăn liệm, mà Phêrô thì "rất đỗi ngạc nhiên" còn Gioan thì "ông đã thấy và ông đã tin"? (Ga 20,8). Vì thế, Phêrô phải cố gắng vượt qua những dấu chỉ khả giác để đến với niềm tin, và Tôma cũng phải vượt qua cái nhìn của giác quan để đến với cái thấy của đức tin. Nhưng Chúa Giêsu đã nói: "Phúc thay những người không thấy mà tin!" (Ga 20,29). Đó cũng chính là phần thưởng của đức tin.
Sở dĩ Gioan nhận ra sự kiện ngôi mộ trống và khăn liệm như dấu chỉ của sự phục sinh, là vì ông đã nhớ lại lời Kinh Thánh: "Ngày thứ ba, (Người) sẽ cho chúng ta chỗi dậy" (Hs 6,2) và phép lạ "ông Giôna ở trong bụng cá ba ngày ba đêm" (Ga 2,1). Vâng, chính Kinh Thánh sẽ soi sáng, hướng dẫn chúng ta nhận ra những dấu chỉ của Thiên Chúa trong mỗi biến cố hằng ngày.
Niềm tin vào mầu nhiệm Phục Sinh của chúng ta hôm nay không phải là một niềm tin mơ hồ, mà là một niềm xác tín vào lời chứng chắc chắn của các Tông đồ qua Kinh Thánh. Trong bài giảng đầu tiên của ngày lễ Ngũ Tuần; Phêrô đứng chung vớt mười một Tông đồ lớn tiếng tuyên bố rằng: "Chính Chúa Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại, về điều nầy, tất cả chúng tôi xin làm chứng" (Cv 2,32). Vâng, chính sự phục sinh của Chúa Giêsu đã bảo đảm cho niềm tin của chúng ta. Thánh Phaolô viết: "Nếu Đức Ki tô đã không chỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của mình" (1Cr 15,17).
* 3. Bình an
Sau khi sống lại, mỗi lần hiện ra với các môn đệ, Chúa Giêsu đều chào các ông "Bình an cho các con". Đây là lời chào thông thường của người Do thái "Shalom". Giáo hội cũng bắt chước lối chào đó, trong Thánh lễ, Chủ tế chào giáo dân "Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em", và giáo dân chào lại "Và ở cùng Cha", nghĩa là "Và cũng xin bình an của Chúa hằng ở cùng Cha". Xét ra lời chào này hơi lạ so với những kiểu chào mà chúng ta quen biết, nhưng có ý nghĩa nhiều hơn. Quả thực. Bình an là điều quý nhất mà chúng ta cần có và cũng là điều tốt nhất mà chúng ta cầu chúc cho nhau. Nhưng bình an là gì mà quý như vậy? và làm thế nào để có được bình an? Đó là điều mà chúng ta sẽ đưa vào bài Tin Mừng hôm nay để tìm hiểu.
Khi ấy các môn đệ đang sợ: Thầy đã bị bắt và bị giết chết rồi. Rất có thể tới phiên các ông cũng sẽ bị bắt và bị giết như vậy. Cho nên họ sợ, và họ trốn trong nhà đóng kín cửa lại. Rồi Chúa Giêsu hiện đến ở với họ, trò chuyện với họ, cho họ xem các vết thương, ăn uống với họ, khích lệ họ... Thế là họ không còn sợ nữa. Họ được bình an. Nhưng do đâu mà họ được bình an? Có phải là vì nguy hiểm đã qua đi rồi chăng? Thưa không, nguy hiểm vẫn còn đó, kẻ thù vẫn còn vẫn đang tìm cách hãm hại các ông. Nhưng nay họ không sợ nữa là vì họ biết đã có Chúa ở bên cạnh họ. Có Chúa bên cạnh thì mọi nguy hiểm không còn làm họ nao núng nữa. Thực ra họ chưa hoàn toàn bình an đâu. Sau khi Chúa Giêsu biến đi thì họ lại sợ, lại đóng cửa trốn. Có lần họ cũng đánh bạo cùng nhau đi đánh cá. Nhưng mới thấy có một cái bóng đen tiến đến là họ lại sợ, họ tưởng là ma. Và khi biết đó là Chúa thì họ lại hết sợ. Mãi tới khi Chúa Giêsu nói với họ trước khi về trời rằng: "Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế", thì họ mới hết sợ hoàn toàn, họ mới hoàn toàn được bình an. Kể từ đó trở đi, các môn đệ mạnh dạn ra đi rao giảng. Người ta bắt, họ cũng không sợ, người ta tra tấn, họ không sợ mà còn vui mừng vì được chịu khổ vì Thầy; người ta xử tử, họ vẫn bình an vui sướng vì được giống như Thầy.
Như vậy, Bình an tức là một sức mạnh, một nơi nương tựa, một nguồn an ủi khiến ta không nao núng sợ sệt dù phải đứng trước bất cứ gian truân nguy hiểm nào. Bình an ấy có được khi ta ý thức có Chúa vẫn ở bên cạnh mình.
Giống như một em bé. Em đang chơi vui vẻ thì trời đổ mưa lớn. Sấm chớp ầm ầm, em hoảng sợ khóc thật lâu. Nhưng mẹ em đã đến, bế em vào lòng, em cuộn mình trong lòng mẹ và ngủ thiếp đi. Sau đó dù mưa vẫn cứ rơi, sấm chớp vẫn cứ ầm ầm, nhưng em vẫn ngủ yên vì em đang ở trong vòng tay che chở của mẹ. Đó là một hình ảnh rất đẹp giúp ta hiểu thế nào là sự bình an.
Phần chúng ta, nếu chúng ta luôn ý thức có Chúa ở bên cạnh mình, và ta luôn nương tựa vào Chúa như em bé nương tựa vào mẹ nó thì chúng ta cũng sẽ luôn được bình an.
Có một gia đình nọ, nhà nghèo, lao động thật là vất vả, tính toán làm ăn rất là lo âu. Nhưng chiều về, vợ chồng con cái đều quây quần trước bàn thờ gia đình và cùng đọc kinh tối chung. Họ dâng lên Chúa những lao nhọc trong ngày, họ xin Chúa thứ tha những vấp váp lỗi lầm đã phạm, họ phó dâng cuộc sống cùng tất cả mọi âu lo cho Chúa. Sau đó họ lên giường ngủ. Bình an! Biết bao gia đình khác cũng lao động vất vả như họ, cũng lo âu toan tính như họ, nhưng các gia đình đó không có được một giấc ngủ bình an. Chỗ khác nhau là một bên có Chúa và biết sống với Chúa, còn một bên thì không.
Hay như một cụ già kia đang hấp hối, cái chết gần kề mà vẫn bình thản sẵn sàng buông tay nhắm mắt ra đi không hề sợ sệt, vì cụ già ấy biết rằng mình ra đi là ra đi trong tay Chúa. Trong khi có biết bao nhiêu người khác đối diện với cái chết mà lòng hoang mang sợ hãi, họ sợ không dám ra đi, vì họ không biết đi về đâu, họ không có Chúa cùng đi với họ.
Kinh nghiệm mà các môn đệ đã trải qua là một bài học quý giá cho chúng ta. Sau khi Chúa Giêsu bị quân thù bắt giết đi, các ông đã sợ hãi trốn kín trong phòng đóng cửa lại, sợ vì cảm thấy cô thế không có Thầy nâng đỡ. Nhiều lần chúng ta gặp cảnh túng thiếu, gian truân, hiểm nguy, chúng ta cũng sợ hãi như thế, chúng ta muốn rút lui trốn tránh, chúng ta muốn ngã lòng, là vì chúng ta không có Chúa ở với mình. Nhưng khi các môn đệ đã biết có Chúa ở bên cạnh họ, cho dù Chúa chỉ hiện diện một cách vô hình sau khi Chúa đã về trời, các ông không còn sợ nữa mà lòng luôn bình an dù phải đối diện với bất cứ hiểm nguy nào. Thì chúng ta cũng thế: Chúa hằng ở bên cạnh chúng ta nếu chúng ta ý thức được điều đó, nếu chúng ta biết tin yêu phó thác vào Chúa và làm việc gì chúng ta cũng nghĩ là có Chúa cùng làm với chúng ta thì chúng ta cũng sẽ luôn được bình an.
* 4. Bài học từ Tôma
Thật là sai lầm khi tưởng rằng tin là chuyện dễ dàng đối với những kẻ may mắn được thấy Chúa Giêsu hơn là đối với chúng ta ngày nay. Tin Mừng đã cho thấy có nhiều người đã được thấy Chúa Giêsu nhưng họ vẫn không tin. Vậy "thấy" không nhất thiết sẽ dẫn tới "tin". Muốn tin thì phải có một quyết định.
Thực thế, các sách Tin Mừng đã kể rằng ngay cả các tông đồ mà cũng gặp khó khăn trong việc tin. Tôma không phải là người duy nhất đã hồ nghi về việc Chúa Giêsu sống lại, mọi tông đồ khác cũng thế. Tin Mừng Thánh Mác cô kể rằng khi Chúa Giêsu hiện ra với họ vào buổi chiều ngày phục sinh thì Ngài đã "trách họ vì sự không tin và cứng lòng bởi họ đã không tin theo lời của những người đã từng thấy Ngài sau khi Ngài sống lại" (Mc 16,14)
Chúng ta có thể thông cảm với các tông đồ. Việc Chúa Giêsu bị đóng đinh quả là một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt họ. Họ đã đầu tư rất nhiều vào Ngài. Họ đã bỏ nghề nghiệp và bỏ hết mọi sự để theo Ngài. Rồi bỗng nhiên Ngài bị giết chết. Thực tế về cái chết của Ngài càng rõ ràng bao nhiêu thì họ càng cảm thấy mất mát bấy nhiêu. Giá trị và ý nghĩa của mọi thứ đều bị đe dọa: tình thân với Ngài, niềm tin vào Ngài, và cả cuộc đời của họ nữa.
Đang lúc đó thì một chuyện không thể tin được xảy ra: đột nhiên họ nhìn thấy Ngài đang đứng ở giữa họ. Việc đầu tiên Ngài làm là chỉ cho họ thấy các vết thương của Ngài. Tại sao Ngài làm thế? Thứ nhất là vì những vết thương ấy giúp họ nhận dạng được Ngài, xác định Ngài vẫn là người trước đó đã bị đóng đinh. Thứ hai là những thương ấy là bằng chứng rằng Ngài yêu thương họ, một tình yêu chứng tỏ bằng hành động. Kế đó Chúa Giêsu mời họ hãy xem và hãy sờ vào những vết thương ấy.
Thái độ của Tôma rất đáng làm gương cho chúng ta. Đó là một thái độ thẳng thắn vì không dấu diếm nỗi hồ nghi của mình. Hồ nghi thường là dấu chỉ của sự yếu kém. Khi chúng ta hồ nghi ai thì đồng thời chúng ta cảm thấy như mình có lỗi với người ấy. Tuy nhiên hồ nghi cũng có thể là một bước khởi đầu tốt, dẫn tới một sự hiểu rõ hơn và sâu hơn. Đây là trường hợp của Tôma: nhờ hồ nghi nên sau đó Tôma đã đạt tới một lời tuyên xưng đức tin cao nhất trong sách Tin Mừng "Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con".
Ở thế gian này, chẳng có gì là tuyệt đối chắc chắn về những sự thiêng liêng, vì nếu có thì đâu cần tới đức tin nữa. Những sự tuyệt đối chắc chắn có thể dẫn tới thái độ ngạo mạn, bất khoan dung và ngu xuẩn. "Người có đức tin mà không bao giờ cảm thấy hồ nghi thì thực ra không phải là người có đức tin" (Thomas Merton)
Mỗi cộng đoàn đều cần có một con người như Tôma, tức là con người dám đặt ra những câu hỏi mà không ái khác dám đặt ra. Người như thế là người đáng tin, người như thế còn giúp những khác trở thành những kẻ đáng tin, bởi vì người như thế giúp cho những người đang tin nhận ra đức tin của họ còn yếu kém lắm, và đồng thời cũng làm cho những kẻ hồ nghi cảm nhận được nỗi ray rứt khi không có niềm tin.
Sau khi vượt qua cơn khủng hoảng đức tin, Tôma đã mạnh dạn làm chứng cho Chúa Giêsu và trở thành một trong những vị thừa sai vĩ đại nhất của Giáo Hội sơ khai. Theo thánh truyền, ngài đã mang Tin Mừng đến các xứ Ba Tư, Syria và Ấn Độ, nơi ngài chịu tử đạo. Tôma là vị tông đồ đầu tiên chết vì đức tin.
Chúa Giêsu mời chúng ta đến gần Ngài trong đức tin và chạm vào các vết thương của Ngài. Mặc dù chúng ta không thể chạm tới Ngài một cách thể lý, nhưng chúng ta có thể đến gần Ngài một cách thiêng liêng. Chúa Giêsu cũng mời chúng ta làm chứng cho Ngài trước mặt những người khác. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho Chúa Giêsu trở thành hữu hình trong thế giới hôm nay. Đó cũng là nhiệm vụ của các tông đồ ngày xưa. Ngày xưa khi các tông đồ đã nhìn thấy Chúa rồi thì các ông cảm thấy được thúc đẩy phải làm cho nhiều người khác cũng biết và tin vào Ngài.
Thế giới hôm nay đầy dẫy những hoài nghi và những người không tin. Cách duy nhất khiến họ tin là làm sao cho họ "thấy" được Ngài, "chạm" được Ngài nơi những môn đệ của Ngài. Thế nhưng, nếu các môn đệ của Chúa Giêsu không có những vết thương để chỉ cho người ta thấy và cho người ta chạm vào thì làm sao mà người ta tin được!
Ước gì chúng ta được ở trong số những người được Chúa Giêsu công khai chúc phúc "Phúc cho những ai tuy không thấy mà vẫn tin" (FM)
* 5. Khủng hoảng đức tin
Khủng hoảng đức tin là chuyện thường gặp. Tôma đã gặp, và Tolstoy cũng đã gặp, như câu chuyện sau đây:
Năm 1879, Tolstoy 51 tuổi. Khi đó ông có đầy đủ mọi lý do để thỏa mãn về đời mình. Ông đã viết nhiều tác phẩm, đặc biệt hai bộ "Chiến tranh và Hòa bình", và "Anna Kerenina". Những tác phẩm ấy đã khiến ông nổi tiếng và bảo đảm cho ông một vị trí nổi bật trong lịch sử văn chương thế giới. Ai cũng công nhận ông là người có thiên tài và đầy óc sáng tạo. Lẽ ra Tolstoy phải rất hạnh phúc. Thế nhưng ông lại cảm thấy bất hạnh. Ông thấy đời mình thật vô nghĩa lý. Một câu hỏi luôn ám ảnh ông: "Liệu trong dời mình có cái gì có ý nghĩa mà không bị sự chết hủy diệt đi không?". Khoảng thời gian ấy thật khủng khiếp đối với Tolstoy, đến nỗi ông đã tính đến việc tự tử. Ông đi tìm câu trả lời trong mọi lãnh vực kiến thức loài người. Ông tìm kiếm suốt ngày suốt đêm, giống như một người sắp chết đi tìm đường sống. Nhưng tìm mãi mà ông chẳng gặp gì cả.
Thế rồi ông tìm nơi những niềm tin Kitô giáo. Thực ra ông đã được sinh ra và lớn lên trong đức tin Kitô giáo nhưng ông cũng đã bỏ nó từ lâu, lý do là ông thấy nó quá vô nghĩa trong môi miệng những người sống ngược hẳn với đức tin của họ. Tuy nhiên cũng chính đức tin ấy lại thu hút ông khi ông nhìn những tín hữu sống đức tin ấy. Ông viết: "Tôi đã nghĩ rằng chẳng có sự thật chắc chắn nào trong đời. Nhưng rồi tôi đã tìm thấy một nguồn sáng chắc chắn, ấy là Tin Mừng. Tôi đã loá mắt vì sự sáng ngời của Tin Mừng. Những lời dạy của Chúa Giêsu quả thực là một giáo huấn tinh tuyền nhất và trọn vẹn nhất cho đời sống. Từ 2000 năm nay, những lời dạy cao quý ấy đã tác động lên biết bao người một cách tuyệt vời không thể tìm được nơi bất cứ ở nào khác. Từ đó một ánh sáng đã bừng chiếu trong tôi và quanh tôi, và ánh sáng ấy không bao giờ rời xa tôi nữa".
Có nhiều người được sinh ra trong đức tin, và trải qua bao năm tháng đức tin ấy vẫn cứ vững mạnh. Thật là một ơn ban vô cùng quý giá. Nhưng cũng có nhiều người mà đức tin luôn là một cuộc chiến đấu liên lỉ. Họ phải trải qua những cơn khủng hoảng đức tin rồi mới có được một đức tin sâu sắc và xác tín.
Nói cách lý thuyết, chỉ có đức tin mới trả lời được cho những câu hỏi sâu xa về cuộc đời. Nhưng trên thực tế, chúng ta không nên hy vọng rằng đức tin sẽ giải quyết hết mọi vấn đề của chúng ta. Không phải chỉ vì chúng ta tin mà chúng ta có được mọi câu trả lời. Tuy nhiên chúng ta đâu cần biết hết mọi câu trả lời, vì tin là tín nhiệm chứ không phải là chắc chắn.
Câu chuyện của văn hào Tolstoy giúp chúng ta nhận thức rằng đức tin được chứa đựng trong một chiếc bình dễ vỡ như thế nào. Nó cũng giúp ta hiểu thêm rằng đức tin kitô giáo chủ yếu không phải là tin vào một mớ giáo điều, mà là tin vào một Đấng đã yêu thương chúng ta - những thương tích của Ngài chứng tỏ điều đó. Hơn nữa, Thánh Kinh còn cho ta biết điều quan trọng không phải là niềm tin chúng ta đặt vào Thiên Chúa mà là niềm tin mà Thiên Chúa đặt vào chúng ta. (FM)
* 6. Chuyện minh họa
Có một vị hoàng đế kia trị vì một đất nước giàu có hùng mạnh. Nhưng tâm hồn ông không thoải mái an vui vì ông luôn bị ray rứt bởi những tội lỗi tàn bạo đã phạm trong thời quá khứ. Một hôm ông bỏ hoàng cung đi vào rừng, cất một túp lều đơn sơ. Trong rừng có một vị ẩn sĩ. Nhà vua tìm đến và nói: "Thưa Ngài, tôi muốn từ bỏ kinh thành ồn ào náo nhiệt vào đây để tìm được một sự bình an như Ngài đang hưởng". Ẩn sĩ đáp: "Tâu đức vua, ở đây cũng không hơn gì nơi khác, vì bình an phải ở trong lòng người". Nhà vua trở về lều mình. Khi thì quỳ gối tha thiết đọc kinh, khi thì thơ thẩn trong rừng, chỉ ăn lương khô và uống nước lã. Chiều đến nhà vua mệt lả ngả mình xuống đất có trả một mớ lá khô. Nhưng suốt đêm cứ trằn trọc không ngủ được. Sáng hôm sau ông tìm đến vị ẩn sĩ: "Thưa ngài, lương tâm tôi cắn rứt làm tôi không ngủ được. Xin ngài nghe lời thú tội của tôi". Ẩn sĩ đáp: "Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội thôi". Nhà vua cãi: "Nhưng tôi không nghe được tiếng Chúa". Ẩn sĩ trả lời: "Tiếng Chúa chỉ nghe được trong thinh lặng, mà thinh lặng chỉ có ngay trong lòng ta. Người nào chỉ biết kêu cầu than rên rỉ mãi mà không biết thinh lặng lắng nghe thì sẽ không nghe được tiếng Chúa". Nhà vua trở về. Vài hôm sau ông đến chào vị ẩn sĩ: "Tôi đã nghe lời ngài, tôi không kêu than rên rỉ nữa mà tập thinh lặng lắng nghe, và tôi đã được nghe tiếng Chúa. Nhưng đó không như tiếng loài người, tôi chỉ nhận thấy như một cảm xúc êm dịu là lỗi lầm của tôi đã được tha thứ. Xin cám ơn ngài, hôm nay tôi sẽ trở về triều đình".
Vài năm sau nhà vua lại trở vào rừng, và cũng tìm đến vị ẩn sĩ: "Thưa ngài không bao giờ tôi quên được tâm trạng an bình khi sống trong rừng này. Hôm nay tôi muốn trở lại đây ít lâu để cầu xin Chúa cất bớt những gánh nặng mà hằng ngày tôi phải vác". Ẩn sĩ đáp: "Tâu Bệ Hạ, khi chúng ta phàn nàn với Chúa về các gánh nặng của mình thì cách đáp ứng tốt nhất của Chúa là không phải cất những gánh nặng đó đi, nhưng là tăng cường đôi vai của ta để ta có thể vác nổi những gánh nặng đó". Nhà vua thắc mắc: "Nhưng làm sao biết được Chúa đang tăng cường sức mạnh cho ta?" Ẩn sĩ: "Bao lâu ta còn dãy dụa chiến đấu thì ta chưa nhận biết được điều đó. Cần phải thinh lặng, ngưng chiến đấu mà chờ đợi sự trợ giúp của Chúa thì khi đó ta mới cảm thấy được bàn tay uy quyền của Chúa đang giúp sức cho ta". Nhà vua cám ơn lui về. Vài ngày sau trở lại chào biệt vị ẩn sĩ: "Thưa ngài tôi đã cảm nghiệm rằng Đấng đã làm cho cỏ cây xanh tốt và nuôi nấng chim trời cũng đang dang tay tăng sức mạnh cho đôi vai tôi. Xin cám ơn ngài và chào ngài".
Thế là nhà vua trở về triều đình. Mấy năm sau ông lâm trọng bệnh, sai người đi mời vị ẩn sĩ đến. Khi ẩn sĩ đến, nhà vua nói: "Thưa ngài đã hai lần ngài giúp tôi tìm thấy bình an. Bây giờ là lần thứ ba mà cũng là lần chót, vì tôi sắp từ giã cõi đời này". Ẩn sĩ hỏi: "Bệ Hạ có còn nhớ cái ngày mà cơn khủng khiếp đầu tiên rời xa Bệ Hạ?" Vua đáp: "Không bao giờ tôi quên, đó là ngày tôi biết lắng nghe tiếng Chúa trong thâm tâm". Ân sĩ hỏi tiếp: "Bệ hạ còn nhớ cái ngày mà cơn khủng khiếp thứ hai rời xa Bệ Hạ không?" Nhà vua đáp: "Cũng không bao giờ quên, đó là ngày tôi biết chờ đợi trong thinh lặng ơn Chúa đến tăng sức cho tôi". Ẩn sĩ bây giờ cao giọng: "Tâu Bệ Hạ, Bệ Hạ đã được nghe tiếng Chúa, Bệ Hạ đã được thấy bàn tay Chúa tăng sức cho Bệ Hạ. Bây giờ Bệ Hạ sắp được chiêm ngưỡng Chúa". Nhà vua sung sướng như đang mơ: "A, tôi sẽ được chiêm ngưỡng Chúa. Nhưng làm sao được?" Ẩn sĩ giải thích: "Chỉ khi ở trong yên lặng tuyệt đối, khi cái nhìn của chúng ta không còn nhìn vào cõi đời đầy những sầu thương tang tóc, không còn ngó nhìn về những tương lai với những ước mơ hay sợ sệt, không còn ngó vào bên trong mình để ngắm chính cuộc đời mình, mà chỉ nhìn về hướng duy nhất là Chúa thôi, thì khi ấy chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng Chúa". Nhà vua thì thầm: "Yên lặng tuyệt đối. Người ta có thể yên lặng tuyệt đối không?" Ẩn sĩ đáp: "Ở đời này thì không. Nhưng trong sự chết thì được". Nhà vua sung sướng thì thầm: "Thế thì tôi muốn chết". Và ông sai sứ giả đi khắp nơi trong nước ra lệnh cho thần dân đừng cầu nguyện cho ông khỏi chết nữa. Còn trong phòng của nhà vua thì cả ngày hôm đó rất yên tĩnh. Khi bình minh ló rạng thì nhà vua ra đi an bình. Cái nhìn của ông như chìm vào một cõi xa xăm, một nụ cười tươi sáng rạng ngời trên gương mặt của nhà vua. Ông đã chiếm hữu được sự an bình vĩnh cửu (Vị Ẩn sĩ)
* 7. Thơ Tagore
"Vào hôm thần chết đến gõ cửa, anh sẽ lấy gì biếu hắn hở anh?
Ồ, tôi sẽ đặt trước mặt khách cốc rượu đời mình tràn đầy, tôi sẽ chẳng chịu để khách ra đi tay không.
Lúc năm tháng đời tôi khép lại, khi thần chết đến gõ cửa mời đi, tôi sẽ đặt trước hắn tất cả trái nho thơm dịu của những ngày mùa thu, những đêm mùa hè, những gì kiếm được, những gì chắt chiu trong suốt cuộc đời cực nhọc.
Ôi thần chết, ngươi làm cuộc đời tràn đầy lần cuối. Thần chết của ta ơi, hãy lại và thì thầm cùng ta chứ (...)
Tôi biết ngày ấy thế nào cũng đến, lúc tôi nhắm mắt thôi không nhìn trái đất này, rồi cuộc đời sẽ thầm lặng ra đi, kéo manh che kín mắt tôi lần cuối (...)
Khi tôi nghĩ đến phút giây cuối cùng ấy (...) nhờ ánh sáng lâm chung tôi thấy thế giới Ngài trần trề châu ngọc. Ở đó, chỗ nương thân tầm thường nhất cũng thú vị, ở đó cuộc đời hèn mọn nhất cũng thơm tho (...)
Tôi đã được phép giã từ. Chúc tôi ra đi may mắn nhé, anh em! Tôi cúi đầu chào tất cả trước khi lên đường!"
Đức Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúng ta hãy tôn vinh Người và dâng lời cầu xin : Lạy Chúa Giêsu, sau khi Phục sinh vinh hiển, Chúa đã hiện ra cho các tông đồ được thấy tỏ tường. Xin củng cố niềm tin còn quá yếu kém của chúng con. Amen.
Thánh Ca : Cho Con Vững Tin
LẠY CHÚA CON và THIÊN CHÚA CỦA CON
Cha Mark Link, S.J.
Một bác sĩ chuyên giải phẫu bàn tay, trong một bài báo được phát hành trên toàn quốc, ông viết rằng trong mọi cuộc giải phẫu, ở một điểm nào đó, ông đã phải kêu lên, "Lạy Chúa con và Thiên Chúa của con!"
Câu chuyện đằng công việc giải phẫu bất thường này được phát xuất trong thời gian ông ở Việt Nam .
Một tối kia, sau khi mới tốt nghiệp y khoa, ông được gọi đến để lấy một viên đạn từ tay một người lính. Đã vậy, ông phải thi hành điều đó dưới ánh sáng của đèn pin. Cuộc giải phẫu ấy đã làm ông cảm động đến nỗi, sau cuộc chiến, ông quyết định chuyên ngành giải phẫu bàn tay.
Vì sự chuyên môn này, nhà phẫu thuật rất thấu hiểu sự đau đớn khủng khiếp gây nên bởi vật gì đó, tỉ như viên đạn, xuyên xé qua xương, bắp thịt, và các thần kinh của bàn tay.
Ông nói cứ mỗi lần ông nghĩ về sự đau đớn khủng khiếp mà Chúa Giêsu phải chịu khi bị đóng đinh trên thập giá thì ông phải nhăn mặt.
Nói về bài phúc âm hôm nay, vị bác sĩ cho biết ông nghĩ rằng lời kêu than của Thánh Tôma, "Lạy Chúa của con và Thiên Chúa của con," không chỉ là một lời tuyên xưng đức tin, mà đó còn là lời sửng sốt bàng hoàng khi thấy các bàn tay của Chúa Giêsu bị xé nát và sứt sẹo biết chừng nào.
Chỉ lúc bấy giờ Thánh Tôma mới thực sự nhận thức được sự đau đớn mà Chúa Giêsu đã chịu trên thập giá. Và sự khám phá đó, vị bác sĩ nói, "vượt quá mức chịu đựng của Thánh Tôma."
Vị bác sĩ này chấm dứt bài viết thật xúc động với lời chứng sau: "Mỗi lần tôi giải phẫu và nhìn vào bên dưới lớp da... của bàn tay con người, tôi được nhắc nhở rằng Đức Kitô đã hy sinh bàn tay lành lặn của Người vì tôi. Và, cùng với Thánh Tôma, tôi nói, 'Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con.'" Dr. C. Scott Harrison, Guideposts (April 1985)
Tôi thích câu chuyện này vì nó dẫn chúng ta về một điểm đức tin mà chúng ta thường hay quên. Điểm đó là:
Mỗi người chúng ta phải đạt đến mức độ trực tiếp tin vào Chúa Giêsu . Chúng ta không thể tin chỉ vì bạn hữu chúng ta tin. Phải, đức tin của họ giúp đỡ chúng ta, nhưng điều đó chưa đủ. Chúng ta phải đạt đến mức độ trực tiếp tin vào Chúa Giêsu, giống như vị bác sĩ đã làm trong câu chuyện trên, và cũng như Thánh Tôma đã làm trong phúc âm hôm nay.
Và vì thế, hãy xem đến một vài trường hợp ngắn gọn của một số người, giống như chúng ta, đã đạt đến mức độ trực tiếp tin vào Chúa Giêsu.
Tác giả Robert Cleath được dẫn đến sự tin tưởng khi chiêm niệm về sự biến đổi không thể tin được đã xảy ra nơi các môn đệ của Chúa Giêsu vào ngày Phục Sinh.
Trước Phục Sinh, họ vỡ mộng, tiêu tan hy vọng. Sau Phục Sinh họ biến đổi một cách lạ lùng. Ngay cả họ được sức mạnh để làm phép lạ. Ông Cleath nói: "Không một giải thích nào đủ lý lẽ để giải thích về sự biến đổi đời sống của họ ngoại trừ chính họ: họ đã thấy Đức Giêsu... còn sống."
Ông Blaise Pascal, một thiên tài toán học, đã phải tin khi suy niệm về dữ kiện sau, đó là không có sự đe dọa ghê gớm nào, dù cái chết, có thể ngăn cản các môn đệ của Chúa Giêsu đừng hô lớn cho thế giới biết rằng Người đã sống lại.
Ông Pascal cho biết, ông tin rằng có những người sẵn sàng "chịu cắt cổ" vì điều họ rao giảng.
Và sau cùng, là những tù nhân ở trong trại tù bên sông Kwai. Qua những cảm nghiệm của chính họ về quyền năng của Chúa Giêsu đang hoạt động trong đời sống của họ mà họ đã phải tin.
Nên nhớ rằng các tù nhân buộc phải làm việc dưới ánh nắng gay gắt mà không được đội nón và đi chân không. Chỉ sau một vài tuần, những người vạm vỡ trở thành các bộ xương biết đi. Nhuệ khí chỉ còn là con số không. Phải thi hành một điều gì đó.
Chính vào lúc này, hai tù nhân trong trại phân chia các tù nhân khác thành nhóm nhỏ để học hỏi Kinh Thánh. Từ việc học hỏi này, các tù nhân biết rằng Chúa Giêsu đã sống lại và đang ở giữa họ. Tất cả những gì họ phải làm là tìm đến với Người.
Khi các tù nhân tìm đến với Chúa Giêsu, họ cảm nghiệm được sự biến đổi lạ lùng trong đời sống của họ. Chính cảm nghiệm này đã giúp họ quỳ xuống và nói với Chúa Giêsu rằng, "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con."
Điều này giúp chúng ta nhìn lại chính con người của mình. Chúng ta cũng phải tin nơi Chúa Giêsu một cách cá biệt. Chúng ta cũng phải tìm ra lý do của riêng mình để giúp chúng ta quỳ xuống và nói với Chúa Giêsu rằng, "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con."
Chúng ta không thể ngược dòng thời gian đi vào lịch sử 2,000 năm trước với ngày Phục Sinh đầu tiên.
Chúng ta không thể đặt ngón tay vào lỗ đinh nơi bàn tay của Chúa Giêsu, như Thánh Tôma đã làm. Chúng ta không thể giải phẫu bàn tay con người, như vị bác sĩ đã làm, để qua cảm nghiệm ấy biết được sự đau khổ vô cùng mà Chúa Giêsu đã phải chịu.
Chúng ta có thể làm như các tù nhân ở sông Kwai đã làm.
Chúng ta có thể tin vào Phúc Âm.
Chúng ta có thể đến với Chúa Giêsu qua đức tin.
Từ những cảm nghiệm của riêng mình, chúng ta có thể khám phá rằng Chúa Giêsu đã sống lại ở giữa chúng ta và sẵn sàng giúp đỡ chúng ta, cũng như Người đã giúp đỡ các tù nhân.
Đây là lời mời gọi mà bài Phúc Âm hôm nay đưa ra cho chúng ta.
Đây là lời mời gọi mà chính Chúa Giêsu đưa ra cho chúng ta khi Người nói với Thánh Tôma:
"Có phải anh tin là vì anh thấy Thầy? Phúc cho những ai không thấy mà tin!" Gioan 20:29
Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô, khi Chúa Giêsu nói với Thánh Tôma, "Thật phúc cho những ai không thấy Thầy mà tin!" đó là Chúa nói với chúng ta.
Người nói với hàng tỉ người Kitô Hữu trong lịch sử rằng:
"Phúc cho các con nếu các con tin vào Phúc Âm.
Phúc cho các con nếu các con đến với Thầy qua đức tin.
Thật vậy, phúc cho các con vì các con sẽ khám phá ra điều mà các tù nhân đã làm. Các con sẽ khám phá ra rằng Thầy đã sống lại, Thầy đang sống, ngay bây giờ Thầy đang ở giữa các con, sẵn sàng để giúp đỡ các con."
Chúng ta hãy chấm dứt với một bài thơ. Một độc giả ở Cedar Rapid, Iowa , gửi cho bà Ann Landers. Bà đã in lại trong tiết mục của bà trong tờ báo ngày Chúa Nhật Phục Sinh.
Bài thơ gửi cho những người như chúng ta, mà trong những lúc yếu đuối, nhiều khi chúng ta bị cám dỗ nghi ngờ không biết Thiên Chúa có thực sự hiện diện hay không, và nếu Người hiện diện, không biết Người có lo lắng gì đến chúng ta không. Bài thơ viết:
"Này bạn, là người không thể di chuyển nổi một vì sao,
Không làm nổi một ngọn núi từ mặt đất,
Hoặc vẽ ra được đường nét của một hoa tuyết
Hay hiểu được sự lạ lùng của sự sinh nở,
"Này con người kiêu ngạo
bạn không thể thay đổi vũ trụ trong bất cứ phương cách nào,
Hay tạo thành một búp hoa, hay thả ra một giọt mưa
Hay tung ra một cụm mây vào ngày nắng đẹp,
"Ôi người trần tục, ngươi không thể vẽ ra cảnh hoàng hôn
Hay tạo ra cảnh bình minh le lói.
Ôi con người nhỏ bé
Ngươi không thể tạo ra dù chỉ một phép lạ,
Sao ngươi dám nghi ngờ Đấng duy nhất có thể làm được điều đó."
Vô Danh
Thánh Ca : Tình Con Yêu Chúa
HÃY TIN VÀ CÓ ĐỨC TIN
Msgr. Edward Peter Browne
L. M. Gioan Trần Khả chuyển dịch
Tất cả các bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay nói về đức tin. Bài đọc thứ nhất mở đầu bằng câu: “Cộng đoàn các tín hữu chỉ có một lòng một ý . . .” Bài đọc thứ hai nói: “Ai tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, kẻ ấy đã được Thiên Chúa sinh ra . . . Ai là kẻ thắng được thế gian? Người tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa là người chiến thắng thế gian.” Hãy tin và có Đức Tin.
Đức Giêsu nói với Tô-ma: Vì đã thấy thầy nên anh mới tin. Phúc thay những người không thấy mà tin. Bài Tin Mừng nói tiếp, “Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được ghi chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống vì danh Người.”
Tất cả các bài đọc trong thánh lễ hôm này đều nói về Đức Tin, nhưng thực sự là toàn thể cuộc đời của Đức Giêsu Kitô ở trần gian là về Đức Tin. Đức Tin bảo chúng ta tin rằng Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế, Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa, và nếu bạn là người theo Đức Giêsu Kitô, bạn sẽ tin vào Đức Giêsu Kitô và làm những điều Ngài truyền dạy.
Thánh Augustinô đã giải thích Đức Tin như sau: Đức Tin là điều chúng ta tin cho dù chúng ta không thấy. Và phần thưởng dành cho đức tin là bạn bắt đầu thấy những điều bạn tin. Nói cách khác, nếu bạn tin bởi vì bạn không thấy, bạn tin bởi vì Thiên Chúa nói cho bạn điều này. Và rồi những điều mà Thiên Chúa đã nói cho bạn, bạn sẽ bắt đầu nhìn thấy và hiểu ra. Bạn sẽ bắt đầu áp dụng vào đời sống của mình. Đức tin luôn dẫn đến hành động. Thánh Giacôbê, trong thư của ngài, đã nói: Đức tin không việc làm là đức tin vô dụng. Nếu bạn tin mà không hành động, thì làm sao bạn lại có thể trông mong nên môn đệ của Đức Kitô?
Nhiều khi người ta không nhận ra rằng Đức Giêsu Kitô đã đến trần gian nhờ đó chúng ta có sự sống lúc này, chứ không phải chỉ sau này, nhưng ngay bây giờ, chúng ta có thể có hạnh phúc của Đức Kitô, bình an của Đức Kitô, hạnh phúc viên mãn ở trong chúng ta, sự hiểu biết về tình thương của Đức Giêsu Kitô, tình thương của Thiên Chúa Cha, sự hiểu biết rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Đức tin đưa chúng ta tới sự sung mãn của đời sống ngay bây giờ, chứ không phải chỉ sau này. Chúng ta tin, và do đó chúng ta hành động. Chúng ta thực hành, chúng ta áp dụng trong đời sống.
Chúng ta tin vào nhiều thứ trong đời sống hằng ngày. Thí dụ, tôi tin là trước khi ra dâng lễ, nếu tôi bật các nút đèn điện lên, thì tất cả đèn sáng lên. Nhưng nếu tôi không bật nút đèn, chúng ta sẽ ngồi trong bóng tối. Tôi có chìa khóa xe trong túi và tôi tin là nó sẽ giúp tôi đề máy xe và tôi có thể lái xe đi chỗ nào đó. Tôi tin như vậy. Nhưng nếu tôi không đặt chìa khóa xe vào ổ khóa để đề cho máy nổ thì tôi sẽ chẳng lái xe đi đâu được.
Dĩ nhiên, đức tin không việc làm là vô dụng. Như Đức Kitô nói với chúng ta: Không phải tất cả những người nói “Lạy Chúa, lạy Chúa” đều được vào nước thời cả đâu, nhưng chỉ những ai thi hành ý của Cha Ta mà thôi. Chỉ có người chu toàn ý Thiên Chúa mà thôi. Nếu chúng ta muốn có tràn đầy bình an, phúc lành của Thiên Chúa, trước hết chúng ta phải có đức tin, và đem đức tin đó vào hành động. Trong thư của ngài, Thánh Gioan nói: Tình yêu của Thiên Chúa bao gồm việc tuân giữ các giới răn, và những lệnh truyền của Chúa không phải là gánh nặng.
Trong cảnh huống của đời sống, người ta thường phàn nàn là có nhiều gánh nặng và nhiều khó khăn “tôi không chịu đựng được.” Họ buông tay và lo lắng về mọi vấn đề. Trong khi Đức Kitô nói, “Tại sao các ngươi lo lắng, tại sao các ngươi lo sẽ ăn gì hay sẽ mặc gì? Thiên Chúa sẽ ban cho các ngươi các thứ đó. Hãy nhìn xem Ngài mặc cho các bông hoa huệ ngoài đồng, và nếu Ngài đã lo cho những bông huệ ngoài đồng biết rằng chúng sẽ bị đốt cháy và bỏ đi, thì Ngài còn lo cho các ngươi biết chừng nào? Vậy tại sao lại bồn chồn buồn lo về những của thế gian này?
Chúng ta nghe người ta nói, “Ôi, đất nước này sẽ quẳng cho chó, mọi cái đều thối nát và mọi thứ đang trở nên tồi tệ.” Họ trở nên bực bội về nhiều vấn đề trong cuộc sống. Và Đức Giêsu nói, “Tại sao lại buồn lo? Nếu anh em tin vào ta, anh em không phải lo bất cứ điều gì. Anh em sẽ có bình an, hạnh phúc và có sự sống sung mãn, anh em sẽ nhận ra được sự hiện diện của Đức Kitô trong đời sống của anh em.”
Trong bài tin mừng hôm nay, Thiên Chúa nói với chúng ta rằng Ngài giầu tình thương. Tại sao lại lo lắng? Ngài ban cho chúng ta bí tích hòa giải. Nếu chúng ta sa chước cám dỗ, hãy tin nhận là Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta ơn tha thứ qua lời xá giải của linh mục. Đức Kitô ban cho vị linh mục quyền ta thứ tội lỗi cho con người. Tuy thế, người ta không đi xưng tội. Họ nói là họ sẽ dùng những cách khác. Họ chỉ cần cầu xin với Thiên Chúa. Họ tin vào Thiên Chúa, nhưng không làm điều Ngài bảo họ làm. Họ tin là Thiên Chúa sẽ cho họ niềm vui và bình an, và Thiên Chúa sẽ biến đổi đời sống của họ, họ có thể được đầy tràn hạnh phúc ở đời này. Họ tin như vậy, nhưng lại không làm gì để hoàn tất nó.
Chúng ta được yêu cầu có đức tin và đem đức tin đó ra thực hành. Đức tin là qùa tặng của Thiên Chúa và món qùa đó được ban cho nhưng không. Chúng ta được ban cho đức tin khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy; chúng ta được ban cho đức tin khi nhận bí tích xá giải. Chúng ta được ban cho đức tin khi lãnh nhận bí tích Thánh Thể. Chúng ta được ban cho đức tin khi lãnh nhận bất cứ một bí tích nào. Khi chúng ta cầu xin đức tin, thiên Chúa ban cho chúng ta đức tin. Thiên Chúa gởi Thánh Thần của ngài trên chúng ta; Ngài ban cho chúng ta ơn đức tin, và chúng ta dùng đức tin đó, bày tỏ đức tin đó ra trong hành động.
Đức Giêsu cho chúng ta Mình và Máu của Ngài. Ngài nói với chúng ta rằng: Đây là mình và máu của ta và trừ khi anh em lãnh nhận mình và máu của Con Người, anh em không thể có sự sống trong anh em. Chúng ta thưa “vâng” chúng ta tin như thế, nhưng nếu chúng ta không rước lễ thì có ích lợi gì? Tin là mình và máu của Đức Kitô hiện diện trên bàn thờ mà nếu chúng ta không tiếp rước mình và máu ngài cách xứng đáng thì có ích gì?
Tất cả những việc làm của đức tin và của các điều chúng ta tin, làm cho đời sống có ý nghĩa. Tôi tin Thiên Chúa; do đó tôi làm theo ý của Thiên Chúa. Tôi tin rằng Thiên Chúa bảo tôi, “Hãy vác thánh gía của anh và đi theo Ta,” và tôi làm theo như thế. Đức Giêsu Kitô nói với chúng ta rằng ách của ngài thì dễ dàng và gánh của ngài thì nhẹ nhàng. Ơn sủng của Thiên Chúa cho chúng ta biết rằng nếu chúng ta có đức Kitô trong đời sống, nếu chúng ta có đức tin, thì đời sống của chúng ta sẽ vui tươi đầy tràn ân sủng của Thiên Chúa, đầy tràn hiểu biết về điều tôi tin và bây giờ tôi thấy. Bởi vì chúng ta tin vào cái chúng ta không thể trông thấy, bây giờ chúng ta thấy điều mà đức tin sẽ đem lại cho chúng ta. Chúng ta hãy cầu xin để chúng ta nhận được đức tin đó, cầu nguyện để chúng ta đem đức tin đó vào hành động bởi vì đức tin không việc làm tốt là vô dụng. Nếu chúng ta làm những việc tốt lành, đức tin của chúng ta sẽ triển nở, chúng ta sẽ vượt qua được những buồn khổ, lo lắng và các gian truân ở thế gian. Chúng ta sẽ nhận biết Thiên Chúa và được cứu rỗi.