Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010
Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010
Hình ảnh mừng Xuân Canh Dần 2010 của hai gia đình Phùng-Anh và Phong-Trang ở Hoa Kỳ
Chỉ có đào thôi , vắng bóng mai!
Gia đình Phùng - Anh
Gia đình Phong - Trang
Bà lì xì cho các con , các cháu
Mừng tuổi mẹ
Cháu trai tuy lớn tướng nhưng vẫn khoanh tay chúc tuổi để được lì xì
Bố mẹ lì xì cho con trai
Hai bác lì xì cho cháu
Những chiếc áo dài Việt Nam
Mời xem toàn cảnh mừng xuân Canh Dần 2010 của gia đình qua anbum sau đây :
Thứ Tư, 24 tháng 2, 2010
Nghe đọc audio: "Tiếu Ngạo Giang Hồ" của Kim Dung
Tiếu ngạo giang hồ là một tiểu thuyết kiếm hiệp lần đầu tiên được phát hành trên Minh báo vào năm 1967 của nhà văn Trung Quốc Kim Dung. Tiêu đề "Tiếu ngạo giang hồ" được đặt theo một bản nhạc cầm tiêu hợp tấu đóng vai trò trung tâm của tác phẩm. Tiếu ngạo giang hồ được coi là một trong những tiểu thuyết đặc sắc nhất của Kim Dung.
Khác với nhiều tiểu thuyết được gắn với các giai đoạn lịch sử của Trung Hoa (ví dụ như Anh hùng xạ điêu vào thời Nam Tống, Thiên long bát bộ vào thời Bắc Tống, Ỷ thiên đồ long ký vào thời Nguyên - Minh...), tác phẩm Tiếu ngạo giang hồ không chỉ rõ thời đại lịch sử của câu chuyện. Tuy nhiên, từ một số yếu tố sau đây, ta có thể suy đoán diễn biến câu chuyện xảy ra dưới triều đại nhà Minh, sau thời đại của Trương Tam Phong, sau khi các phái Võ Đang, Nga Mi, Côn Luân đã ra đời và nổi danh trên giang hồ.
Trong tiểu thuyết Ỷ Thiên Đồ Long Ký , ở gần cuối bộ truyện đã đề cập đến việc Chu Nguyên Chương phản bội Minh giáo và sáng lập ra nhà Minh. Do đó rất có thể ông ta đã ngược đãi Minh Giáo sau khi lên ngai vàng, dẫn đến việc Minh giáo bị đổi tên thành Nhật Nguyệt thần giáo , như trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ .Minh giáo trước đó thường được đồng đạo võ lâm gọi là ‘Ma giáo’ tỏ ý ghê sợ, điểm này tương đồng với Nhật Nguyệt thần giáo trong Tiếu ngạo giang hồ. Một đoạn đối thoại trong Tiếu ngạo giang hồ cũng có lần Nhạc Linh San nói "Chu Nguyên Chương cũng từng là một thầy tu."
Trong tiểu thuyết Lộc Đỉnh Ký , lấy bối cảnh triều vua Khang Hy thời nhà Thanh, phương trượng chùa Thiếu Lâm cũng có lần nói với Vi Tiểu Bảo về một anh hùng tên Lệnh Hồ Xung sống ở thời kỳ trước đó đã lâu.
Tiếu ngạo giang hồ được cố ý sáng tác như một sự phản ánh về các chính khách. Năm 1980, Kim Dung bình luận rằng ông không lồng ghép bộ truyện vào bất kỳ bối cảnh lịch sử nào chính là để chỉ ra những con người muôn hình muôn vẻ trong truyện ở thời đại nào cũng có. Hơn nữa, ông mô tả sinh động các nhân vật trong tiểu thuyết như những chính khách hơn là những người đứng đầu các môn phái võ công. Kim Dung cũng lưu ý rằng bộ tiểu thuyết được ông sáng tác trong thời kỳ cuộc Cách mạng Văn hóa diễn ra ở Trung Quốc. Những nhân vật như Lâm Bình Chi, hay Phương Chứng đại diện cho những chính khách có thật sống trong thời kỳ đó.
Mọi tranh chấp trong Tiếu ngạo giang hồ đều bắt nguồn từ những huyền thoại về Tịch tà kiếm pháp của họ Lâm (Lâm Viễn Đồ). Trong quá khứ, Lâm Viễn Đồ ban đầu là một nhà sư pháp danh Ðộ Nguyên thiền sư, là đệ tử của Hồng Diệp thiền sư. Sau đó vô tình nhận được một phần bí kíp Quỳ Hoa bảo điển ở phái Hoa Sơn từ Mẫn Túc và Chu Tử Phong, ông đã hoàn tục, rời chùa Thiếu Lâm, lập gia đình, lập ra Phước Oai tiêu cục. Ông trở thành một cao thủ kiếm thuật, sử dụng 72 đường kiếm gọi là Tịch tà kiếm pháp đánh bại nhiều cao thủ (trong đó có đệ nhất kiếm thuật Trương Thanh Tử thuộc phái Thanh Thành) nên bí kíp Tịch tà kiếm pháp đã khiến nhiều nhân vật giang hồ thèm muốn. Tuy nhiên, Lâm Viễn Đồ hiểu tác hại của Tịch tà kiếm pháp nên đã không cho con cháu mình luyện tập. Đến đời cháu của Lâm Viễn Đồ là Lâm Chấn Nam làm chủ Phước Oai tiêu cục, phái Thanh Thành mà lúc đó đứng đầu là Dư Thương Hải đã tàn sát cả Phước Oai tiêu cục (lấy cớ báo thù cho con trai y), bắt cóc hai vợ chồng Lâm Chấn Nam nhằm chiếm đoạt Tịch tà kiếm phổ. Con trai của Lâm Chấn Nam là Lâm Bình Chi đã lưu lạc giang hồ để báo thù và vô tình gia nhập phái Hoa Sơn, một môn phái trong liên minh Ngũ Nhạc kiếm phái (thực ra là dưới vở kịch được dàn dựng của Nhạc Bất Quần, chưởng môn phái Hoa Sơn).
Khúc Tiếu ngạo giang hồ
Tiếu ngạo giang hồ là tên bản nhạc cầm tiêu hợp tấu do hai người là Lưu Chính Phong phái Hành Sơn (cao thủ thổi tiêu) và Khúc Dương của Nhật Nguyệt thần giáo (cao thủ chơi thất huyền cầm) cùng nhau sáng tác. Hai người kết bạn tri kỷ, Lưu Chính Phong định ở ẩn để cùng Khúc Dương tiêu dao nhưng đã bị phái Tung Sơn ngăn trở, giết chết cả gia đình và đánh cả hai trọng thương. Trước khi chết, cả hai đã cùng nhau chơi lần cuối bản nhạc này, sau đó khẩn cầu Lệnh Hồ Xung lưu truyền hậu thế bản nhạc này, rồi cùng nhau chết ở núi Hành Sơn. Cũng đồng thời, ở núi Hành Sơn, vợ chồng Lâm Chấn Nam trước khi chết đã nhờ Lệnh Hồ Xung căn dặn Lâm Bình Chi không luyện tập bí kíp Tịch tà kiếm pháp mà tổ tiên đã truyền lại.
Độc cô cửu kiếm
Lệnh Hồ Xung là nhân vật chính của tiểu thuyết. Khi xuống thành Hành Dương, đã cứu Nghi Lâm, ni cô phái Hằng Sơn khỏi tay Điền Bá Quang, được truyền lại khúc Tiếu ngạo giang hồ, trở về núi Hoa Sơn đã bị sư phụ mình là Nhạc Bất Quần phạt trên núi xám hối. Ở đó, Lệnh Hồ Xung đã có duyên được thái sư thúc tổ của mình là Phong Thanh Dương truyền thụ Độc cô cửu kiếm, bí kíp kiếm thuật tối thượng, từ đây, Lệnh Hồ Xung trở thành cao thủ đệ nhất kiếm thuật, đánh bại mọi cao thủ bằng kiếm thuật. Lệnh Hồ Xung vô tình bị Đào cốc lục tiên gây trọng thương mất hết nội lực, kiệt sức gần chết, phải lưu lạc giang hồ.
Tranh đoạt Tịch tà kiếm phổ
Lệnh Hồ Xung bị đồng môn hiểu lầm là chiếm đoạt Tịch tà kiếm phổ, tư thông với Nhật Nguyệt thần giáo (bị giới chính giáo gọi là Ma giáo) và bị đuổi khỏi phái Hoa Sơn. Trên đường lang thang giang hồ, chàng đã trở nên nổi tiếng nhờ dùng Độc cô cửu kiếm đánh bại nhiều cao thủ, kết bạn với nhiều kỳ nhân dị sĩ trên giang hồ và đặc biệt là yêu Nhậm Doanh Doanh, con gái của giáo chủ Nhật Nguyệt thần giáo Nhậm Ngã Hành, vô tình bị rơi vào những âm mưu tranh đoạt Tịch tà kiếm phổ của các môn phái.
Vang khúc Tiếu ngạo giang hồ
Cuối cùng, Lệnh Hồ Xung và Nhậm Doanh Doanh đã trở thành những truyền nhân thực sự của khúc Tiếu Ngạo giang hồ, Doanh Doanh sử dụng đàn cầm, Lệnh Hồ Xung thổi tiêu, cùng nhau hợp tấu. Cả hai đã vượt qua nhiều sóng gió giang hồ, phá những âm mưu đen tối của nhiều nhân vật, đem lại hòa bình cho giang hồ. Đoạn kết, cả hai cùng nhau ngao du sông núi, cùng nhau tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ.
Mời các bạn xem truyện tại đây hoặc tại đây
Mời nghe theo YouTube tại đây.
Mời nghe theo các file mp3 & wma như sau:
Theo bộ truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ của tiểu thuyết gia Kim Dung , tiêu cầm khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ được khởi nguồn từ Lưu Chính Phong - là sư đệ của chưởng môn nhân phái Hành Sơn Mạc Đại tiên sinh, là một cao thủ kiếm thuật đồng thời là một nghệ sĩ thổi tiêu. Ông kết bạn với Khúc Dương, trưởng lão Nhật Nguyệt thần giáo vì cùng niềm đam mê âm nhạc, cả hai cùng sáng tác khúc Tiếu ngạo giang hồ, là bản nhạc xuyên suốt tác phẩm.
Lưu Chính Phong xuất hiện rất ngắn nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các tình tiết chính của tác phẩm. Truyền thống của môn phái Hành Sơn là các cao thủ đều là những người mê âm nhạc nên cả hai anh em cũng đều là những nghệ sĩ. Khác với sư huynh của mình là Mạc Đại luôn xuất hiện với bộ dạng một ông lão rách rưới, lang thang khất thực, Lưu Chính Phong lại là một điền chủ giàu có, nhà cao cửa rộng. Theo lời kể của khách giang hồ, Lưu Chính Phong nổi danh với đường Hồi phong lạc nhạn kiếm, một đường kiếm chém đứt cổ 3 con nhạn lớn. Và trong cuộc chiến với các cao thủ phái Tung Sơn ở cuộc rút lui giang hồ của ông, Lưu Chính Phong cũng chứng tỏ trình độ võ thuật siêu đẳng khi một chiêu bắt sống cao thủ Tung Sơn để khống chế các cao thủ khác rút lui.
Lưu Chính Phong - đại diện cho chính phái, đã gặp Khúc Dương, trưởng lão "Ma giáo", - đại diện cho tà phái (theo quan niệm giang hồ khi đó), hai tâm hồn đã gặp nhau ở tấm lòng khoáng đạt, nhân hậu, yêu âm nhạc và nhanh tróng trở thành bạn tri kỉ của nhau. Lưu Chính Phong là cao thủ thổi tiêu, Khúc Dương là cao thủ chơi thất huyền cầm. Cả hai đã cùng nhau sáng tác khúc Tiếu ngạo giang hồ bi tráng, là bản nhạc cầm tiêu hợp tấu tuyệt đỉnh. Bản nhạc vừa mô tả những đâm chém đau thương trên giang hồ, nhưng cũng lại mang tấm lòng khoáng đạt của những con người yêu tự do và mong ước hòa bình cho giang hồ.
Theo phiên bản cũ trước khi Kim Dung sửa đổi, Khúc Dương và Lưu Chính Phong đã đi đào các ngôi mộ cổ để tìm khúc Quảng lăng của Kê Khang (nhạc sĩ cuối đời Tam Quốc) đã bị thất truyền, sau đó dựa trên trên khúc phổ này để sáng tác nên khúc Tiếu ngạo giang hồ tuyệt đỉnh.
Có thể nói khúc Tiếu ngạo giang hồ là một bản hùng ca, ca ngợi tự do và mong ước hòa bình cho giang hồ. Chỉ có ba người được chứng kiến hai người lần cuối cùng cầm tiêu hợp tấu bản nhạc này là Lệnh Hồ Xung, Nghi Lâm và Khúc Yên Phi, cháu gái Khúc Dương trước khi hai người qua đời trên núi Hành Sơn.
Thứ Hai, 22 tháng 2, 2010
Ca nhạc bé thơ "Bầu và Bí"
Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2010
Truyện vui cười ngày Tết
Thứ Bảy, 20 tháng 2, 2010
Cảm hứng Tết của nhà thơ trào phúng Tú Xương
Nhà thơ Tú Xương tên thật là Trần Tế Xương, tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, Tử Thịnh. Tên bố mẹ đặt cho lúc đầu là Trần Duy Uyên. Ông sinh ngày 5 tháng 9 năm 1870 (tức ngày 10 tháng 8 năm Canh Ngọ), ở làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (sau đổi thành phố Hàng Nâu, hiện nay là phố Minh Khai, phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định). Ông mất ngày 29 tháng 1 năm 1907.
Văn học nằm ngoài những định luật của băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết. Thơ văn của Tú Xương là một trường hợp như vậy. Thể xác của Tú Xương đến nay đã hơn 100 năm nát với cỏ cây. Nhưng sự nghiệp văn chương của ông thì vẫn như một chàng trai xinh đẹp, sung sức, bất chấp mọi thử thách thời gian.
Tản Đà - nhà thơ nổi tiếng tài năng và "ngông" của giai đoạn sau, giai đoạn giao thời thơ cũ - thơ Mới cũng đã phải phát biểu: "Trong những thi sĩ tiền bối, tôi khâm phục nhất Tú Xương". Vũ Trọng Phụng - nhà văn hoạt kê hàng đầu của những năm 30 cũng viết "Tú Xương là bậc thần thơ thánh chữ". Sự nghiệp thơ của Tú Xương không chỉ được đánh giá cao ở trong nước mà cả ở nước ngoài. Giáo sư Albert Smith (Anh) viết: "Tú Xương xứng đáng đứng vào hàng những nhà thơ trào phúng lớn của thế giới". Tiến sĩ văn chương Jean-Curier (Pháp) cũng cho rằng: "Trong bầu trời thơ ca Việt Nam từ xưa đến nay, nếu chọn lấy năm ngôi sao sáng nhất thì Tú Xương là một trong năm ngôi sao ấy".
Tú Xương ra đi vào ngày 29/1/1907, tức là trước Tết khoảng nửa tháng, chưa kịp viết bài thơ Tết năm ấy. Mà như ta biết, Tết vốn là dịp dồi dào thi hứng của thi nhân.
Tú Xương có một câu đối Tết xuất sắc mà bây giờ ít khi ta nhắc lại vì cuộc sống và phong tục cũng đã thay đổi, nhưng đặt vào lúc nó ra đời thì thật đắt và thật sâu cay, chua chát :
"Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo
Nhân tình trắng thế lại bôi vôi".
Ngày nay chúng ta còn học tập được ở nghệ thuật dùng từ tài tình của tác giả khi muốn châm biếm một điều gì đấy về nhân tình thế thái: xác (danh từ, danh từ tính từ hóa); trắng (nghĩa bóng - nghĩa đen).
Tiếng cười cay độc, chua chát của Tú Xương có ý nghĩa phủ định xã hội, cái xã hội của những kẻ giàu sang hãnh tiến. Bài Năm mới chúc nhau của ông là tiếng chửi vào bọn người ấy, chứ không phải là chửi tùm lum tất cả.
"Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạn bao nhiêu đứa giã trầu".
"Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang
Đứa thời mua tước, đứa mua quan
Phen này ông quyết đi buôn lọng
Vừa chửi vừa la cũng đắt hàng".
"Nó lại mừng nhau cái sự giàu
Trăm nghìn vạn mớ để vào đâu
Phen này ắt hẳn gà ăn bạc
Đồng rụng đồng rơi lọ phải cầu".
"Nó lại mừng nhau sự lắm con
Sinh năm đẻ bẩy được vuông tròn
Phố phường chật hẹp người đông đúc
Bồng bế nhau lên nó ở non".
Chính vì cảm hứng xã hội ấy của bài thơ, mà sau nghe nói có người thêm vào một khổ mà người ta vẫn nghĩ là của Tú Xương vì nó hoàn toàn thống nhất với cảm xúc chủ đạo của bài thơ:
"Bắt chước ai ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp hết cả trên đời
Vua, quan, sĩ, thứ người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người".
Cũng cảm hứng phê phán đó, có bài Năm mới:
"Khéo báo nhau rằng mới với me
Bảo nhau rằng cũ, chẳng ai nghe
Khăn là bác nọ to tầy rế
Váy lĩnh cô kia quét sạch hè
Công đức tu hành, sư cô lọng
Xu hào rủng rỉnh, Mán ngồi xe
Phong lưu rất mực ba ngày tết
Kiết cú như ta (ai) cũng rượu chè".
Ở đây, Tú Xương phê phán thói phô trương rởm đời của bọn hãnh tiến học làm sang, nó là một sự mỉa mai, chửi rủa đối với xã hội của những người nghèo khổ.
Đằng sau cái cười của Tú Xương là nỗi đau, nỗi đau mất nước. Bài Xuân ru mà của ông có những câu thơ không còn là trào phúng nữa mà là trữ tình 100%.
"Xuân từ trong Huế mới ban ra
Xuân chẳng riêng ai khắp mọi nhà
Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
Loẹt lòe trên vách, bức tranh gà
Chí cha chí chát khua giày dép
Đen thủi đen thui cũng lượt là
Dám hỏi những ai nơi cố quận
Rắng xuân, xuân mãi thế ru mà".
Ông nhắc nhở bọn hãnh tiến rởm đời hãy nhớ nhục mất nước. Câu thơ là lời cảnh tỉnh thiết tha, gợi nhớ câu thơ ông viết trong kỳ thi năm Đinh Dậu.
"Nhân tài đất Bắc nào ai đó
Ngoảnh cổ mà trông lại nước nhà".
Có bài thơ Tú Xương không nói về Tết nhưng nhân sự việc xảy ra vào dịp này, ông có nhắc đến Tết, đó là bài Mồng 2 tết viếng cô Ký:
"Cô Ký sao mà đã chết ngay
Ô hay trời chẳng nể ông Tây
Gái tơ đi lấy làm hai họ
Năm mới vừa sang được một ngày
Hàng phố khóc bằng câu đối đỏ
Ông chồng thương đến cái xe tay
Gớm ghê cho những cô con gái
Mà vẫn đua nhau lấy các thầy".
Tú Xương châm biếm thói thực dụng vô luân mất gốc của một số người lúc đó. Cô Ký lấy thầy Ký ta nhưng lại đi lại với ông Tây chánh cẩm để thuận tiện cho việc làm ăn (mở hiệu xe tay). Nhưng câu đau nhất trong bài không chỉ là câu 2 mà là câu luận thứ 2 (câu 6). Ông chồng không thương vợ chết trẻ mà chỉ lo từ nay không ai lo liệu cho cái hiệu xe tay, không còn ai đi lại với ông chánh cẩm để công việc làm ăn được thuận lợi, nhất bản vạn lợi.
Tú Xương hay cười, cười cả những người không có tội , nhưng hãy xem kỹ, trong cái cười ấy có cả giọt nước mắt xót thương. Nhà thơ cảm thương với kiếp cô đầu trong ngày tết ế ẩm, túng thiếu:
"Chị hỡi chị, năm nay túng lắm
Biết làm sao, Tết đến nơi rồi...
Chị em ta cùng nhau giữ giá
Đến bây giờ ngã cả chẳng ai nâng
Cũng liều bán váy chơi xuân" (Tết cô đầu).
Xem chừng nụ cười trào phúng đã nhường cho nước mắt trữ tình. Và cảm hứng của nhà thơ trào phúng đầu thế kỷ bỗng gần với cảm xúc của nhà văn lãng mạn năm 40 (Thạch Lam với Tối 30 tết), hoặc đã chuẩn bị cho tiếng cười cay đắng của nhà văn hoạt kê Nguyễn Công Hoan những năm 30 trong Người ngựa, ngựa người.
Nhà thơ trào phúng ấy cũng là người hay tự trào. Tác giả cười hay nói đúng hơn, thẩm thía cái nghèo, cái bất lực, cái không thành đạt của mình Cảm Tết, Sắm Tết. Những câu đùa trong 2 bài thơ này là những câu đùa ra nước mắt:
"Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo
Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu
Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy
Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu
Bánh đường sắp gói e mồm chảy
Giò lụa toan làm sợ nắng thiu
Thôi thế thì thôi đành tết khác
Anh em đừng nghĩ tết tôi nghèo".
Đặc biệt, bài Sắm tết, tiếng cười được nghệ thuật hư cấu phóng đại giúp sức trở nên những tiếng cười gằn:
"Tết nhất năm nay khéo thật là
Một mâm mứt rận mới bày ra
Xanh đồng thắng lại đen nhưng nhức
Aó đụp bò ra béo thực thà
Kẹo chú Sìu Châu đâu đọ được
Bánh bà Hanh Tụ cũng thua xa
Sang năm quyết mở ngôi hàng mứt
Lại rưới thêm vào tí nước hoa".
Tác giả giễu mình mà hóa ra chửi đời. Tuy nhiên nỗi ghét đời kia lại chính là hình chiếu ngược của lòng yêu đời. Bài hát nói Tết dán câu đối thể hiện lòng yêu vợ, tính cách phóng khoáng, tài tử và vui tính của tác giả:
"Nhập thế cục bất khả vô văn tự
Chẳng hay ho cũng húng hắng lấy một vài
Huống thân danh mình đã đỗ tú tài
Ngày tết đến cũng phải một vài câu đối
Đối rằng:
"Cực nhân gian chi phẩm giá phong nguyệt tình hoài
Tối thế thượng chi phong lưu, giang hồ khí cốt"
Viết vào giấy dán ngay lên cột
Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay
Thưa rằng hay thật là hay
Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài
Xưa nay em vẫn chịu ngài".
Và cả trong các bài thơ chửi giễu những thói rởm ngày tết vẫn có những câu thú vị đậm màu sắc dân tộc:
"Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
Om thòm trên vách bức tranh gà"...
Tóm lại, chỉ đọc mấy bài thơ Tết của Tú Xương, ta đã thấm thía cái ý vị hay, riêng của thơ Tú Xương và phần nào thấy được tài năng và chiều sâu tâm tưởng ông. Khi Tú Xương mất, nhà thơ Nguyễn Khuyến, người sinh trước ông 35 năm, nhưng lại mất sau ông 2 năm, đã viếng 2 câu đối:
"Kìa ai chín suối Xương không nát
Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn".
Nhà thơ lão thành đại khoa đó tuy lời lẽ có phần cẩn trọng nhưng thực sự đã là người đầu tiên khẳng định giá trị cao, giá trị vượt thời gian của thơ Tú Xương. Còn nhà thơ lớn hiện đại Xuân Diệu sau này thì lời lẽ mạnh mẽ hơn nhưng cũng vẫn ý tưởng ấy:
"Ông nghè, ông thâm vô máy khói
Đứng lại văn chương một tú tài".
