Chào mừng bạn đến với Gia Đình Duy Duy - Chúc bạn vui vẻ và hạnh phúc !

Thứ Hai, 29 tháng 11, 2010

Xem phim : Fatima - Lịch Sử và Sứ Điệp (trọn bộ 60 phút)



Kỳ này , chúng tôi xin giới thiệu bộ phim “Fatima : Lịch Sử và Sứ Điệp”. Phim dài khoảng 60 phút, thuật lại sự tích kèm với lời bình, sử dụng hình ảnh trích từ phim trên để minh họa ... Và những chặng đường lịch sử về lòng sùng kính Đức Mẹ Fatima trong Giáo hội từ năm 1917 đến nay, trải qua các triều đại giáo hoàng ...

Trong phần 3 và 4, chúng ta nghe thuật lại việc Đức Mẹ hiện ra vào các tháng 8, 9 và đặc biệt ngày 13.10.1917. Phép lạ mặt trời múa. Chúng ta sẽ biết khi nào thì Giáo hội, sau quá trình nghiên cứu, chính thức cho tôn kính Mẹ Fatima : từ địa phương, đến toàn giáo hội với việc xác định lễ Đức Mẹ Fatima năm 1962. Chúng ta cũng biết thêm về pho tượng Đức Mẹ thánh du, thời điểm xây đền thờ Fatima, lễ đặt vương miện dâng thế giới cho Mẹ, và hai trong ba bí mật Fatima đã được thực hiện ...

Trong phần 5 và 6, chúng ta nghe thuật lại các chuyến hành hương của các Đức Thánh Cha đến Fatima, cái chết của các trẻ Phanxicô, Giaxinhta và sơ Lucia. Năm 2000, nhân dịp suy tôn chân phước cho hai trẻ Phanxicô và Giaxinhta, đức Gioan Phaolô II cũng cho biết về bí mật thứ ba của Fatima đã ứng nghiệm nơi bản thân ngài.. Sẽ có nhiều thước phim rất quý giá cho ta biết lòng sùng kính của tín hữu khắp nơi, và ôn lại những lời Mẹ nhắn nhủ với đoàn con thân yêu trong giáo hội và sứ điệp cho nhân loại.

Mời các bạn xem phim về Đức Mẹ Fatima :

Phim 1 : Fatima - Lịch Sử và Sứ Điệp (trọn bộ 60 phút) 




Phim 2 : Fatima - phép lạ Đức Mẹ fatima (trọn bộ 105 phút)

Chủ Nhật, 28 tháng 11, 2010

Nhà Thơ Xuân Diệu

Mời các bạn nghe đọc thơ Xuân Diệu Thơ Xuân Diệu (Phần 1) Thơ Xuân Diệu (Phần 2) Tiểu sử Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu, sinh ngày 2 tháng 2, 1916 tại Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Cha là ông Ngô Xuân Thọ (giáo viên), người làng Trảo Nha, Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh và mẹ là bà Nguyễn Thị Hiệp. Xuân Diệu lớn lên ở Qui Nhơn. Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn (1938-1940). Ông tốt nghiệp cử nhân Luật 1943 và làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho một thời gian trước khi chuyển về ở Hà Nội. Bên cạnh sáng tác thơ, ông còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày Nay và Tiên Phong. Ông là một trong những người sáng lập Đoàn báo chí Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam. Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, “ông hoàng của thơ tình”. Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào “Thơ Mới”. Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này: Thơ Thơ (1938), Gửi Hương Cho Gió (1945), truyện ngắn Phấn Thông Vàng (1939). Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội. Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ ở Việt Bắc. Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một “dòng thơ công dân”. Bút pháp của ông chuyển biến phong phú về giọng vẻ: có giọng trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận, giọng thơ tự sự trữ tình. Tiêu biểu là: Ngọn Quốc Kỳ (1945), Một Khối Hồng (1964), Thanh Ca (1982), Tuyển Tập Xuân Diệu (1983). Là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam, Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ (một số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học. Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983.Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (1996).Ông mất ngày 18 tháng 12, 1985 Bình luận về thơ Xuân Diệu Có lẽ chẳng ai làm thơ tình ướt át, lãng mạn và... điệu đà ẻo lả như nhà thơ này. Nhiều thế hệ học trò, cho đến văn thi nhân hậu bối, đă mê thơ ông, thuộc thơ ông. Có người còn mượn thơ ông để tỏ tình nữa; vì bài thơ nào của ông cũng nói đến tình yêu mà lại là thứ tình yêu rất lạc quan, lúc nào cũng thành công, hạnh phúc, hả hê, hài lòng... thứ tình yêu của tuổi mới lớn, của người mới biết yêu lần đầu, tò mò, bồn chồn, hăm hở tìm chọn những phương thức tỏ bày. Cho dù trong định nghĩa chữ Yêu, ông nói là "chết ở trong lòng một ít" nhưng cũng chẳng thấy hơi thơ ông nhuốm màu khổ đau chi cả. Ông còn sung sướng được chết một ít trong lòng nữa là đàng khác. Ðọc thơ ông, tôi không thấy buồn (dĩ nhiên không phải đọc thơ thì phải buồn), chỉ thấy vui là vui chúng mình vui nhiều. Giống như đọc truyện kể về những cặp trai gái yêu nhau. Càng về sau, thời hậu chiến, nghĩa là sau cái thời thơ ông rộ nở và chiếm lĩnh đài vinh quang của thi đàn Việt-nam, cho đến thời kỳ đất nước chia đôi, rồi tái thống nhất dưới ngọn cờ đỏ, thơ ông cứ thế mà nhạt dần theo năm tháng. Ông không còn nói được cái tình yêu đôi lứa chung cho mọi người mà chỉ nói cho thân phận, hoàn cảnh riêng của mình; thỉnh thoảng có nói về cái tình chung nào thì đó lại là cái tình yêu đối với cái mình không yêu mà phải giả đò yêu, hoặc yêu lầm mà cứ tiếp tục ca tụng cái yêu lầm lỡ ấy... Dù sao, có một thời thơ ông đă mơn trớn dựng xây bao cuộc tình, khích lệ yêu với thương, gỡ rối tơ lòng (hàm thụ) cho bao tâm hồn non trẻ trước ngưỡng cửa cuộc đời. Và lác đác những đoạn thơ của ông đă từng được chép một cách trân trọng trên giấy tập học trò, và chen vào những lá thư tình vụng dại, trích dẫn nơi những bài luận văn... Làm sao cắt nghĩa được tình yêu! Có nghĩa gì đâu một buổi chiều Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt Bằng mây nhẹ nhẹ, gió hiu hiu... (Vì sao) Dù không cắt nghĩa được tình yêu lúc ấy, nhưng đến một lúc dày dạn kinh nghiệm hơn, ông đã cho lớp người sau một định nghĩa về tình yêu, và định nghĩa này dường như được mặc nhiên công nhận như là định nghĩa phổ quát đối với nhiều tầng lớp đang yêu và đã yêu. Ðịnh nghĩa đó nằm trong bài thơ Yêu của ông. Có thể nhiều người sẽ không thuộc hết bài, nhưng ít ra cũng thuộc câu đầu, câu chót, và cứ lấy đó làm thần phù khi bàn nói về chữ Yêu: Yêu là chết ở trong lòng một ít Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu. Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết. Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt Tưởng trăng tròn, hoa tạ, với hồn tiêu Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu! - Yêu, là chết ở trong lòng một ít. Họ lạc lối giữa u sầu mù mịt, Những người si theo dõi dấu chân yêu Và cảnh đời là sa mạc cô liêu Và tình ái là sợi dây vấn vít Yêu, là chết ở trong lòng một ít. (Yêu) Chết trong lòng một ít là thứ tình yêu xa hoa, thứ tình yêu của kẻ thắng thế, của những kẻ có thể phụ bạc người yêu bất cứ lúc nào. Yêu mà chỉ chết trong lòng một ít thì chẳng lấy gì tha thiết lắm. Trên thực tế thì dù được, dù mất, một tình yêu sâu đậm thế nào cũng làm chết cả lòng chứ không chỉ chết một ít. Yêu hời yêu hợt mới chết một ít. Yêu đắm yêu đuối thì chết cả một đời. Cho nên, cái tình yêu chết một ít đó, có vẻ không thật. Cả những mối tình sóng bước dưới trăng, hồn lâng lâng, nhè nhẹ, lặng lẽ bước trong thơ... cũng có vẻ yểu điệu làm dáng, không thật. Chỉ có cái tình thật nhất, đẹp nhất, trung thực nhất mà Xuân Diệu lột tả được một cách xuất thần, đó là mối tình vu vơ tuyệt vọng của người kỹ nữ. Ðọc bài này, người ta sẽ cám cảnh thương cho những duyên phận bẽ bàng, thương đau; mà cũng cám ơn ngọn bút tài hoa của thi nhân đã nói giùm tâm cảnh, hoàn cảnh xót xa của đời những người con gái ăn sương, hương sắc tàn phai theo năm tháng... Mỗi ngày mỗi đêm, tuổi xuân rơi rụng dần mà không tìm thấy chút hy vọng nào cho một hạnh phúc nhỏ nhoi; tìm quên trong cảm giác hầu hạ phục tùng những tấm chồng tạm bợ cũng không sao khỏa lấp đuợc nỗi cô đơn truyền kiếp và cái định mệnh khắt nghiệt đã đóng nặng dấu ấn vào tim. Họ bám víu, bám víu... nhưng không giữ đuợc gì. Ôm ấp từng khách lạ để tìm hơi ấm hạnh phúc hão huyền. Tình yêu là đâu? Tình yêu là gì? Không chết đi một ít mà chết ở tận cùng con tim. Con tim cũng đã mất đi hình dạng của nó. Sống vật vờ như thế với từng đêm mộng mị chiêm bao. Mỗi sớm mai thức dậy, nhìn thấy sông trôi, người chồng một đêm cũng trôi, cuộc tình tạm bợ cũng trôi đi trong đôi mắt run mờ. Ðây, bài Lời Kỹ Nữ của Xuân Diệu: Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi! Ðêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời Khách không ở, lòng em cô độc quá. Khách ngồi lại cùng em, đây gối lả Tay em đây mời khách ngả đầu say Ðây rượu nồng. Và hồn của em đây Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử. Chớ đạp hồn em! Trăng từ viễn xứ Ði khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn Gió theo trăng từ biển thổi qua non; Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn. Chớ để riêng em phải gặp lòng em; Tay ái ân du khách hãy làm rèm Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng Ðẩy hộ hồn em triền miên trên sóng Trôi phiêu lưu không vọng bến hay gành; Vì mình em không được quấn chân anh Tóc không phải những dây tình vướng víu Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da Người giai nhân: bến đợi dưới cây già Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt. Lời kỹ nữ đă vỡ vì nước mắt Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi Gỡ tay vướng để theo lời gió nước. Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi Du khách đi - Du khách đă đi rồi. (Lời Kỹ Nữ) * Dầu sao, vào những lúc tâm hồn thơ thới lâng lâng bởi một duyên tình nào đó, cũng nên đọc vài bài thơ tình của Xuân Diệu, có thể sẽ được bồi thêm một ít phấn chấn hay nên thơ nào chăng? Hoặc ít ra cũng gợi nhớ một dĩ vãng mộng mơ nào đó mà trong đời ai cũng một lần kinh qua... Nguyên Ðán Xuân của đất trời nay mới đến Trong tôi xuân đến đã lâu rồi; Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi Trong vườn thơm ngát của hồn tôi. Chiều Hôm nay, trời nhẹ lên cao, Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn... Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn, Sương trình rơi kín từ nguồn yêu thương. Phất phơ hồn của bông hường, Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng. Nghe chừng gió nhớ qua sông, E bên lau lách thuyền không vắng bờ. Không gian như có dây tơ, Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu. Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều, Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn... Tương Tư Chiều Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm Anh nhớ em, em hỡi! anh nhớ em Không gì buồn bằng những buổi chiều êm Mà ánh sáng đều hòa cùng bóng tối. Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành Mây theo chim về dãy núi xa xanh Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ. Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ. Thôi hết rồi! còn chi nữa đâu em! Thôi hết rồi, gió gác với trăng thềm, Với sương lá rụng trên đầu gần gũi, Thôi đã hết hờn ghen và giận dỗi, (Ðược giận hờn nhau, sung sướng bao nhiêu!) Anh một mình, nghe tất cả buổi chiều Vào chậm chậm ở trong hồn hiu quạnh. Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh. Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi! Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm. Hoa Nở Ðể Mà Tàn Hoa nở để mà tàn Trăng tròn để mà khuyết Bèo hợp để chia tan Người gần để ly biệt. Hoa thu không nắng cũng phai màu Trên mặt người kia in nét đau. Tả cảnh tả người cỡ như bài này thì tuyệt: Thu Nõn nà sương ngọc quanh thềm dậu Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì. Hư vô bóng khói trên đầu hạnh; Cành biếc run run chân ý nhi. Gió thầm, mây lặng, dáng thu xa Mới tạnh mưa trưa, chiều đã tà Buồn ở sông xanh nghe đã lại Mơ hồ trong một tiếng chim qua. Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm Hây hây thục nữ mắt như thuyền. Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên. Và bài sau đây, dù sáng tác thời tiền chiến, để nói cái bẽ bàng của một đời hương sắc/tài hoa (của giai nhân? hay nghệ sĩ?) khi trao gửi thân phận/tài năng của mình không đúng chỗ, thì chừng mười mấy năm sau đó, lại thấy có vẻ như ứng vào hoàn cảnh chung của những nghệ sĩ, những văn công, không thể đóng góp tài năng của mình cho văn học nghệ thuật nữa, mà phải dùng tài năng của mình để tô son thếp hồng cho một bộ máy. Ðọc bài này để tiếc thương cho những nghệ sĩ tài hoa một thời: Gửi Hương Cho Gió Biết bao hoa đẹp trong rừng thẳm Ðem gửi hương cho gió phụ phàng! Mất một đời thơm trong kẽ núi Không người du tử đến nhằm hang! Hoa ngỡ đem hương gửi gió kiều, Là truyền tin thắm gọi tình yêu. Song le hoa đợi càng thêm tủi, Gió mặc hồn hương nhạt với chiều. Tản mác phương ngàn lạc gió câm Dưới rừng hương đẹp chẳng tri âm. Trên rừng hoa đẹp rơi trên đá, Lặng lẽ hoàng hôn phủ bước thầm. Tình yêu muôn thuở vẫn là hương Biết mấy lòng thơm mở giữa đường Ðã mất tình yêu trong gió rủi Không người thấu rõ đến nguồn thương! Thiên hạ vô tình nhận ước mơ Nhận rồi không hiểu mộng và thơ... Người si muôn kiếp là hoa núi Uống nhụy lòng tươi tặng khách hờ.

Thứ Bảy, 27 tháng 11, 2010

Phúc âm Lễ Chúa Nhật I Mùa Vọng (28/11/2010)

Nguồn : www.40giayloichua.net Mời nghe bài giảng với chủ đề "HÃY TỈNH THỨC CẦU NGUYỆN" của Linh Mục Phê Rô Bùi Quang Tuấn . CSsR HÃY SẴN SÀNG CHO MỘT TƯƠNG LAI TỐT ĐẸP Lm.Carôlô Hồ Bạc Xái 1. Phải biết nuôi hy vọng Alan Platon là một nhà văn Nam Phi, tác giả một quyển sách nhan đề Cry the Beloved Country trong đó ông mô tả hoàn cảnh khốn khổ của nước Nam Phi dưới chế độ phân biệt chủng tộc apartheid. Platon có một giấc mơ: ông mơ có một ngày mà mọi người dân trong đất nước của ông đều được đối xử công bình và bình đẳng. Và để thực hiện giấc mơ ấy, ông đã lao mình vào chính trị, đấu tranh suốt mấy mươi năm để xoá bỏ chế độ apartheid ấy. Nhiều người cho rằng mơ ước và việc làm của Platon là không thể nào thực hiện được. Nhưng ông vẫn kiên trì vì tin rằng ngày mơ ước ấy sẽ đến. Chỉ tiếc là ông đã chết trước khi thấy được ngày đó, nhưng lịch sử chứng minh rằng ông đã đúng. Ngôn sứ Isaia còn có một giấc mơ táo bạo hơn nữa: Ông mơ tới ngày các nước sẽ không còn tuốt gươm chém giết lẫn nhau nữa, người ta sẽ lấy gươm rèn thành lưỡi cày, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm, và mọi người sẽ bước đi trong ánh sáng của Chúa. Thật là một giấc mơ tuyệt vời! Có người cho rằng giấc mơ ấy sẽ đến khi Ðấng Messia đến. Người khác cho rằng nó chỉ sẽ đến khi Ðấng Messia lại đến lần thứ hai. Có kẻ nói nó sẽ chẳng bao giờ đến, đó chỉ là nằm mơ giữa ban ngày. Nhưng vẫn có người tin rằng thế nào nó cũng đến nên miệt mài theo đuổi như Alan Platon trong chuyện trên. Một chuyện khác: Một người thợ săn nghe nói tới một con chim đặc biệt có đôi cánh rộng màu trắng rực rỡ. Ðó là con chim đẹp nhất trong các loài chim trên mặt đất. Vì thế người thợ săn không quản ngại đường xa, trèo đồi vượt suối đi tìm nó hết ngày này sang ngày khác, tháng này đến tháng nọ, năm này đến năm kia. Một lần anh đã may mắn thấy được bóng dáng nó ở một khoảng cách rất xa. Nhưng chỉ thoáng thấy là nó bay đi mất. Anh vẫn kiên trì đi tìm. Một ngày kia anh nhặt được một cọng lông trắng của nó. Rồi anh chết đi mà không bao giờ bắt được con chim mơ ước của mình. Cuộc săn tìm của người thợ săn là hình ảnh của loài người tìm kiếm hòa bình. Giấc mơ toàn thế giới vui hưởng thái bình của Isaia có thể không thực hiện được nhưng nó không chỉ đơn thuần là nằm mơ giữa ban ngày, mà giống như một ngọn núi mà ta mơ có ngày sẽ đứng trên đó. Dĩ nhiên muốn thế thì ta không thể cứ ngồi một chỗ mà mơ, hoặc ước chi nó từ trên trời hạ thấp xuống tận chân ta. Ta phải leo, phải có chương trình và kiên trì làm theo chương trình ấy, cho dù có chậm chạp và lâu dài. Ngay cả khi giấc mơ thái bình ấy sẽ không bao giờ được thực hiện trọn vẹn trên toàn thế giới đi nữa, thì việc theo đuổi giấc mơ ấy cũng có ảnh hưởng tốt trên đời ta. Ðiều quan trọng không phải là đạt được mục đích mà là sống có mục đích. Nhiều khi, có một mục đích tốt cho đời mình thì kể như đủ, miễn là không bao giờ ta bỏ mục đích ấy. Thế giới ngày nay nhờ khoa học kỹ thuật tiến bộ có thể làm được hầu như mọi điều, nhưng lại bất lực không tạo ra hòa bình được: bất hòa khắp nơi, trên bình diện lớn như nước này với nước nọ, dân này với dân nọ; hoặc trên bình diện nhỏ như nhóm này với nhóm kia, người này với người khác. Mỗi kitô hữu có thể góp phần mình vào việc thực hiện giấc mơ thái bình của Isaia, bằng những cố gắng xoá bỏ óc kỳ thị, sự đố kỵ, ích kỷ, chia rẻ nhau...; bằng cách gieo rắc hòa thuận, cảm thông, hợp tác... Chúng ta cũng nên biết rằng chúng ta không cô đơn trong những cố gắng ấy, mà có Chúa giúp ta: Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta đến nỗi sai Con Một của Ngài đến ở với loài người chúng ta, thiết lập Nước Thiên Chúa ở trần gian này, và cùng đồng hành với chúng ta trong nỗ lực leo lên đỉnh núi thái bình. 2. "Ðây là lúc chúng ta phải thức dậy" Lời Thánh Phaolô trong bài đọc II làm cho chúng ta giật mình. Phải chăng chúng ta đang ngủ vùi? Ðúng vậy, dù mắt chúng ta vẫn mở nhưng thực sự chúng ta đang ngủ trong bóng tối mịt mù: - Chúng ta ngủ vì "những việc làm đen tối" - Chúng ta ngủ vì cứ "chè chén say sưa, chơi bời dâm đãng" - Chúng ta ngủ vì lòng đầy "tranh chấp đố kỵ" - Chúng ta ngủ vì chỉ "lo lắng thỏa mãn những dục vọng xác thịt". Nhưng Thánh Phaolô nhắc nhở rằng: "Ðêm sắp tàn, ngày gần đến" và "Giờ đây, phần rỗi chúng ta gần đến, hơn lúc chúng ta mới tin đạo", vậy "Ðây là lúc chúng ta phải thức dậy". - "Hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày" - Hãy "cầm lấy khí giới của sự sáng" để chiến đấu chống lại những sức mạnh của tối tăm tội lỗi. - Hãy cởi bỏ con người cũ thiên về những dục vọng xác thịt để "mang lấy Ðức Giêsu Kitô". 3. Hai người, hai số phận "Hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi. Hai người đàn bà đang xay bột, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi". Ðức Giêsu chỉ nói tình trạng như thế thôi chứ không nói rõ lý do tại sao. Tuy nhiên chúng ta có thể biết lý do qua câu chuyện Ngài kể về thời ông Nôe: Ông Nôe chính là người được tiếp nhận, nhờ ông đã tỉnh táo nghe được lời Chúa báo sắp có nạn Hồng thuỷ, và ông đã tích cực chuẩn bị đóng tàu. Còn mọi người khác là những kẻ bị bỏ rơi, vì họ chẳng để ý tới việc gì khác ngoài cuộc sống vật chất, "ăn uống, dựng vợ gả chồng". Những bận tâm đó đã chiếm hết tâm trí họ rồi, còn tâm trí đâu mà để ý đến lời Chúa. Giả như ông Nôe có kể lại cho họ nghe lời cảnh báo của Chúa thì họ cũng không tin và còn cho là chuyện viễn vông, không thiết thực như chuyện "ăn uống, dựng vợ gả chồng". Trong cuộc sống của chúng ta, giữa những bề bộn lo lắng về vật chất, thế tục, Lời Chúa vẫn vang lên để nhắc chúng ta phải biết quan tâm đến nhiều việc khác thuộc phương diện tinh thần, phương diện siêu nhiên, phương diện đời đời... Ai tỉnh táo thì nghe được và sẽ "được tiếp nhận", kẻ nào mãi thờ ơ thì như "đàn gãy tai trâu" và sẽ "bị bỏ lại". 4. Chúa cấm con thất vọng * Hãy cố gắng, dù yếu đuối ngã sa, con hãy xin Chúa thứ tha và tiếp tục tiến. Trên võ đài, trong vận động trường quốc tế, các lực sĩ cũng lắm lần ngã quỵ, bị nhiều cú đấm, bị thương tích, nhưng cứ vùng dậy, cứ hy vọng, họ đã đoạt giải vô địch quốc tế (ÐHV 971) Cha Charles de Foucauld có để lại mấy giòng sau đây. Ðọc kỹ, con sẽ thấy phấn khởi tâm hồn và lấy lại được niềm tin, nhất là những lúc hầu như con thất vọng: - "Dù con xấu xa, dù con tội lỗi, con cũng trông cậy vững chắc rằng con sẽ được lên trời. Chúa cấm con thất vọng về điều đó". - "Dù con bội bạc cách mấy, khô khan cách mấy, hèn nhát cách mấy, lợi dụng ơn Chúa cách mấy. Chúa cũng vẫn bắt con phải hy vọng được sống đời đời dưới chân Chúa trong tình thương và sự thánh thiện". - "Chúa cấm con ngã lòng trước sự khốn nạn của con. Chúa không cho con nói 'Tôi không thể đi tới được, đường lên trời khó khăn quá, tôi phải thụt lùi và trở xuống chỗ thấp'" - "Trước những sa ngã trở đi trở lại của con, Chúa lại cấm không cho con nói: 'Tôi không hề sửa mình được, tôi không có sức để nên thánh, tôi không xứng đáng để vào thiên đàng...'" - "Vậy Chúa muốn con phải trông cậy Chúa luôn, vì Chúa ra lệnh và vì con phải tin ở tình thương và quyền năng của Chúa" (ÐHY NVT, Trên đường lữ hành) 5. Thức dậy Ở Mêhicô, giáo phận của Ðức Cha Samuel Ruiz có tới 80% giáo dân là người da đỏ bản xứ. Bản thân ngài nổi tiếng là người bênh vực cho dân da đỏ. Nhưng không phải tự nhiên mà ngài làm được việc đó đâu. Trong một buổi nói chuyện ở Nhà thờ Chính tòa Westminster Mùa Chay 1996, ngài đã thố lộ tâm sự như sau: "Suốt 20 năm làm giám mục giáo phận này, tôi như một con cá đang ngủ, nghĩa là mắt vẫn mở nhưng chẳng thấy gì. Tôi còn hãnh diện vì giáo phận có nhiều nhà thờ và giáo dân đông đúc. Rồi một hôm tôi gặp cảnh một người da đỏ bị trói vào một thân cây và bị ông chủ dùng roi quất túi bụi vì lý do người này không chịu làm thêm 8 giờ phụ trội nữa." Chính cái biến cố đó đã làm cho Ðức Cha Samuel Ruiz "thức dậy". Từ đó trở đi, ngài hăng hái tranh đấu cho quyền lợi người da đỏ. Chuyện trên cho ta thấy hai điều: 1/ Thiên Chúa có nhiều cách để kêu gọi người ta thức dậy; 2/ Và cũng có nhiều cách thức dậy: thức dậy về thể xác (thôi ngủ), thức dậy về xã hội, thức dậy về đạo đức v.v. Lạy Chúa, vì yêu thương thế gian, Chúa đã ban Con Một xuống thế làm người, sống kiếp phàm nhân, nên giống chúng con trong mọi sự, trừ tội lỗi. Xin cho tất cả chúng con thiết tha trông chờ Con Chúa ngự đến, biết chuẩn bị xứng đáng tâm hồn, để đón mừng mầu nhiệm Giáng sinh cao cả.Amen. HÃY TỈNH THỨC Lm. Jude Siciliano, OP Ngày Lễ Tạ Ơn vừa kết thúc vào thứ Năm vừa qua. Quả là một ngày lễ tuyệt vời ! Tôi đoan chắc nhiều gia đình đã thưởng thức món súp gà tây trong những ngày qua. Chắc chắn chúng ta cũng dùng món Sandwich kẹp gà tây với nước sốt trứng cá. Rất nhiều người coi Lễ Tạ Ơn là ngày nghỉ ưa thích : thực đơn khá thú vị, mỗi gia đình mỗi khác. Những món ăn truyền thống khơi nên những kỷ niệm về thời thơ ấu – “món ăn ngon”. Có nhiều cảnh tượng quen thuộc về trái bí ngô, bài trí giản dị và ở bán cầu Bắc còn có những chiếc lá thu. Chẳng cần vội vã mua quà làm gì, vì đây là thời gian dành cho gia đình và bạn hữu. Lễ Tạ Ơn không có bầu khí rộn ràng của mùa Giáng Sinh như chúng ta thấy ngoài kia, bên ngoài nhà thờ. Sau cảm giác ấm áp của ngày Lễ Tạ Ơn, hôm nay, khi bước vào trong nhà thờ, chúng ta có thể thấy hơi sửng sốt. Ở nơi phượng tự của chúng ta, việc bố trí đã được giản thiểu đáng kể : không có những chiếc lá thu rực rỡ ánh hồng cũng chẳng thấy trưng hoa. Không phải là màu vàng và màu đỏ tươi của mùa thu, nhưng chỉ có màu xanh thẫm và màu tím. Những gì hiện ra trước mắt chúng ta là một bàn thờ hoàn toàn mộc mạc với cung thánh trống không. Ngay tại trong nhà thờ này, Lễ Tạ Ơn rõ ràng đã không còn nữa ! Những gì chúng ta nhìn thấy và nghe thấy cho chúng ta biết là mình đang ở trong một mùa khác, khắc khổ hơn và ít hào nhoáng hơn. Dường như chẳng có vẻ gì là “cảm giác hạnh phúc” phải không ? Nếu chúng ta hãy còn nghi ngờ, thì quả là không hẳn như vậy. Quí vị có nghe nói về những biểu tượng trong bài Tin Mừng hôm nay nói về lụt lội và con người mất sự cảnh giác hay không? Những người thợ trên cánh đồng đang xay lúa thì được đưa đi giữa lúc đang làm công việc thường ngày. Cùng với hình ảnh của Tin mừng, lời khuyên của thánh Phao-lô đưa ra những cảnh báo thảm khốc và ảm đạm, nhắc chúng ta luôn tỉnh thức, loại bỏ những việc làm đen tối và ăn ở ngay thẳng “như người đang sống giữa ban ngày”. Vâng, đây không phải là ngày nghỉ Lễ Tạ Ơn cuối tuần trong nhà thờ và Giáng Sinh thì chưa đến. Chúng ta hãy còn những bốn tuần trước khi nghe câu chuyện Giáng Sinh, dù chúng ta đã thấy đồ trang trí Giáng Sinh nơi các cửa hiệu và bên hông các gian hàng dược phẩm, tạp hóa bày đầy kẹo Giáng Sinh. Chúng ta đã phát chán khi nghe bài “Đêm An Bình” (Silent Night) được phát trong các thang máy của cửa hàng bách hoá hay chưa? Ngoài kia, cái gì cũng có nhưng lại thiếu “sự yên lặng”. Quả thực, âm thanh thì muốn điếc lỗ tai và tiếng ồn ngày càng tăng, càng lớn. Khi ở nhà, ở công sở hay bất cứ nơi đâu, chúng ta đã thực sự bước vào điều mà nhiều người gọi là “Mối Âu Lo Lễ Hội”. Chúng ta lo lắng vì không biết nên mời ai tới dự bữa tối Giáng Sinh và mua thứ gì để làm quà. Đâu là quà nào mới nhất mà mọi đứa trẻ “phải có” ? Đâu là vật dụng hoặc món trang sức thời trang nhất mà người bạn đời của mình đang để ý trong các chương trình quảng cáo ? Tất cả những lo âu này ngày một nhiều do sự bùng nổ của các chương trình quảng cáo – chẳng ai thoát khỏi chúng. Thật dễ hiểu tại sao mà mùa này có nhiều người tự vẫn, bạo hành gia đình tăng, nhiều người bị rối loạn tim mạch hơn bất kỳ mùa nào khác. Chúng ta còn bỏ sót điều gì, hay còn quên ai nữa không? Với tất cả những điều đang xảy ra ngoài kia, thì việc thực hiện một cuộc trốn thoát ra như không thể được. Quả là không tệ khi đến nhà thờ để nghỉ ngơi; để có cơ hội tận hưởng một không gian giản dị với những bài thánh ca êm đềm, để trấn tĩnh và nhìn sâu vào cõi lòng mình, cũng như ý nghĩa của mùa này. Chưa phải là những bài thánh ca như : “Trang trí đại sảnh bằng cây Noel” (Deck the Halls with boughs of Holly) hay một giai điệu khác như bài “Tiếng Chuông Ngân” (Jingle Bell) hay “Chú tuần lộc mũi đỏ Rudolph” (Rudolph the Red Nose Reindeer). Thật may, chúng ta đang ở trong mùa Vọng. Đây là mùa chúng ta nghỉ ngơi và trong giờ phút thờ phượng này, hãy cảm nhận tâm tình ít mãnh liệt hơn, bước chầm chậm rồi dừng lại để ngắm nhìn và lắng nghe cuộc đời của mình. Và cuối cùng sẽ thấy đây chưa phải là thời gian ảm đạm. Đây không phải là liều thuốc giảm đau, nhưng là một mùa vui. Đây là giây phút hiếm hoi giúp tinh thần sáng suốt, là dịp để thư giãn, như Lời Chúa hôm nay khuyên nhủ chúng ta: “Đây là mùa để… Tỉnh thức”. Cộng đoàn phụng vụ chúng ta có nhiều tước hiệu ưa thích dành cho Chúa Giê-su, đặc biệt là trong mùa Vọng này. Chúng ta gọi Ngài là Thái Tử Hoà bình, là Đấng Cứu Thế, là Đấng Messia, là Emmanuel – Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta… Tôi chắc rằng mỗi người cũng có những danh hiệu ưa thích của riêng mình dành cho Người: “Bạn”, “Thầy thuốc”, “Đấng an ủi”… Nhưng tôi cho rằng không ai trong chúng ta dám gọi Ngài đúng như Ngài tự gọi mình trong bài Tin Mừng hôm nay. Cách Ngài nói về mình làm mọi người sửng sốt. Ngài nói rằng khi Ngài trở lại, Ngài sẽ đến như kẻ trộm giữa đêm khuya– thình lình, không ngờ tới. Đây chẳng phải là cách rất tự tôn về chính Người đó sao? Chắc chắn là chúng ta không mở rộng vòng tay để đón những kẻ trộm. Thực tế, chúng ta bảo vệ mình khỏi bọn họ: chúng ta cài chặt then cửa, đặt những chấn song ở tầng hầm và những cửa sổ tầng trệt; gắn chuông chống trộm trong xe hơi và nhà ở; treo những thông cáo trên các cửa sổ để báo có hệ thống an toàn… Đến như kẻ trộm: quả là một hình ảnh rất lạ mà Đức Giêsu sử dụng để cảnh báo về sự trở cách bất ngờ của Người trong cuộc đời chúng ta! Trong khi hình ảnh Đức Giêsu như một kẻ trộm không phải là hình ảnh đầu tiên xuất hiện trong đầu chúng ta, nhưng phải chăng Người vẫn còn là kẻ trộm? Ngài muốn lẻn vào những nơi phức tạp và bước vào chốn ẩn khuất trong cuộc đời chúng ta. Ngài đúng là một tên trộm, nhưng là trộm lành. Ngài lấy đi những thứ không cần thiết mà chúng ta đem theo bên mình, những thứ đè nặng lên cuộc đời chúng ta như: tội lỗi, sự hối tiếc, hận thù, đố kỵ, hay tinh thần nguội lạnh… Nhưng Ngài để lại những thứ có giá trị – tuỳ theo nhu cầu chúng ta thực sự cần trong cuộc sống. Đâu là điều chúng ta cần trong mùa Vọng này: lòng tin tưởng sâu xa hơn trong sự đợi chờ; kiên trì làm những việc thiện; dọi ánh sáng vào nơi tăm tối; canh tân niềm tin của chúng ta; chữa lành Giáo hội; đem bình an vào những nơi ưu phiền….? Mùa Vọng là thời gian để tỉnh thức, sẵn sàng cho kẻ trộm bước vào cuộc đời ta cách mới mẻ. Ngài là kẻ trộm mà chúng ta cần phải luôn để mắt đến và lắng tai nghe để có thể nhận ra những dấu hiệu của kẻ trộm khi Ngài bước đến. Chúng ta cầu xin luôn được cảnh giác trong mùa Vọng này. Khi chúng ta nhận ra mình đang tự do tiến đến chân lý và rồi chúng ta chọn để trở nên ngày một lương thiện hơn, đó chính là những việc Ngài làm – tên trộm lành đã đến rồi đó. Kẻ trộm lành đã đến khi chúng ta vô tình hay khó chịu với người khác nhưng ta nghe lòng mình nói : “tôi xin lỗi”; Khi chúng ta nhận ra người khác không cần phải bày tỏ lòng yêu mến chúng ta trong mùa Giáng Sinh này bằng những món quà đắt đỏ; Khi những nhu cầu của người nghèo chạm đến cõi lòng chúng ta và chúng ta tìm cách đáp lại nhu cầu của họ; Khi chúng ta bị cuốn hút vào việc cầu nguyện cách say mê hơn – thì kẻ trộm lành đã đến rồi đó. Khi Lời Chúa trở nên sống động hơn trong những thánh lễ này và chúng ta có một cảm nghiệm mới mẻ về sự hiện diện của Ngài trong Bí tích Thánh Thể thì kẻ trộm lành đã đến rồi đó. Đức Giêsu đến bất ngờ trong cuộc đời của những người bình dị, những người vẫn đang ăn uống, kết hôn hay lao động. Họ không phải là những người xấu; họ là những người như chúng ta, bận tâm với những điều quan trọng, với những công việc thường ngày. Chìa khoá để khám phá ra dụ ngôn hôm nay là kẻ trộm yêu chúng ta và muốn yêu chúng ta hơn thế nữa nên Ngài đến khơi dậy nơi chúng ta, để chúng ta vượt qua những gì nhàm chán hằng ngày. Ngài muốn chúng ta lưu tâm đến mùa Vọng này và cất khỏi chúng ta tính tự mãn. Ngài là kẻ trộm đến khi chúng ta mất cảnh giác, khi những công việc thường ngày đã khiến chúng ta tê liệt, mệt nhoài. Trong Chúa Nhật thứ nhất mùa Vọng này chúng ta cầu xin một tinh thần tỉnh thức để nhận ra Đức Giêsu khi Ngài đến trong cuộc đời chúng ta, một cách mới mẻ và bất ngờ. Chúng ta cầu xin cho công việc thường ngày không làm chúng ta uể oải khi Ngài đến, hay khiến chúng ta chỉ nhìn vào những nơi chúng ta thường mong đợi ngài xuất hiện. NGÀY VÀ ĐÊM Lm. Bùi Quang Tuấn, C.Ss.R. “Các con phải sẵn sàng” (Mt 24:44) vì “Đêm sắp tàn, ngày gần đến” (Rm 13:12). “Hãy bước đi trong ánh sáng của Chúa” (Is 2:5). Đó là lời mời gọi cấp thiết khởi đầu cho một năm phụng vụ. Thế là một mùa Vọng nữa lại về. Bao tâm hồn lại nao nức chuẩn bị cho ngày lễ Giáng sinh sắp đến. Giữa tiết trời lành lạnh và không gian chùng xuống như muốn ru cho giấc ngủ dài thêm, lời mời gọi trên chắc làm cho nhiều người nuối tiếc. “Đêm sắp tàn, ngày gần tới” rồi sao? Nhưng khi nào là đêm và lúc nào là ngày? Làm sao biết được ranh giới giữa ngày và đêm? Một vị sư phụ đã nêu câu hỏi với các học trò của mình: “Chúng con có biết khi nào đêm chấm dứt và lúc nào ngày bắt đầu không?” Một anh nhanh nhảu: “Thưa thầy, ấy là lúc ta thấy một con vật từ đàng xa và phân biệt được nó là con bê hay con lừa”. Một anh khác, sau lúc suy tư cũng xin góp ý: “Thưa thầy, khi nào ta nhìn thấy người bộ hành và phân biệt được thù hay bạn”. Nhiều câu trả lời khác được đưa ra, nhưng dường như vị sư phụ không thoáng chút hài lòng. Cuối cùng cả đám nhao nhao xin thầy giải thích. Sau phút trầm ngâm như muốn thấm sâu trong giòng tư tưởng, vị sư phụ lên tiếng: “Khi nào các con nhìn vào tha nhân và nhận ra đó chính là anh chị em mình thì đêm đã tàn và ngày đã tới”. Thế ra không phải việc “phân biệt” con này con kia hay người này người nọ, song là “nhận ra” tha nhân như anh chị em của mình mới là cho bóng tối tan đi và ánh sáng toả rạng. Đêm đen sẽ mãi thống trị tâm hồn nếu đời tôi cứ đắm chìm trong hiềm khích, hận thù, bất công, chia rẻ, vô luân, lừa dối. Còn khi để cho yêu thương dẫn lối cuộc sống, ngày mới cuộc đời đã bắt đầu lên ngôi, nhờ ánh quang soi tỏ mọi lối đường. Thuở xưa, Isaiah mơ ước một ngày không còn chiến tranh. Người ta sẽ lấy gươm đao đúc thành lưỡi cày, lấy giáo mác rèn nên lưỡi liềm. Không còn ai tuốt kiếm đánh nhau. Các quốc gia không còn thao luyện để chiến đấu. Nỗi khác mong đợi cho ánh sáng tình yêu thống trị địa cầu đã bắt đầu thành sự khi Đức Giêsu là “Mặt Trời Công Chính” bừng lên và cũng là “Hoàng tử Bình an” ngự đến. Ấy thế mà dường như nỗi khát mong đợi chờ ấy vẫn không ngừng lập đi lập lại. Phải chăng vì tâm hồn nhân thế cứ bị bóng đêm của thế gian đe doạ chiếm đoạt, nên ước nguyện ánh sáng chân lý chiếu soi vẫn mãi là đặc tính của mùa Vọng hằng năm? Ngày xưa, theo truyền thuyết của dân Rôma, tối 24 tháng 12 là ngày sinh của thần mặt trời, và rồi sáng hôm sau, vị thần đó vươn mình lên mang lại ánh và sự sống cho nhân gian. Thế nên, khắp cùng đế quốc, người ta mừng lễ Natalis Solis Invicti vào ngày đông chí, tức ngày 25 tháng 12, khởi đầu thời kỳ thần ánh sáng thắng vượt tối tăm, bước qua giai đoạn ngày dài hơn đêm. Vào năm 336, Đức Giáo hoàng Jules I đã ấn định ngày đông chí như ngày mừng kỷ niệm Đức Giêsu-“Mặt Trời Công Chính”- đã giáng sinh cho nhân loại. Thế là ngày lễ ngoại giáo đã được thay bằng tính chất xác thực của biến cố Nhập Thể. Từ đó trở đi, cứ mỗi lần sắp đến 25 tháng 12, giáo dân khắp nơi nô nức chuẩn bị tâm hồn cho ngày đại lễ Giáng sinh. Họ không ngừng ăn chay hãm mình, quảng đại thứ tha, đổi mới đời sống, chờ mừng ngày Chúa ngự đến. Dần dần những việc làm đó trở thành tính chất căn bản của mùa Vọng, mùa trông mong ngày sinh nhật Đấng Cứu Thế. Đã bao mùa Giáng sinh trôi qua, nhưng có lẽ ‘tính chất căn bản’ của mùa Vọng đó đã phai mờ trong lòng nhiều người. Khi xưa, Giáo hội Kitô hoá ngày lễ ngoại giáo thành lễ Giáng sinh để hướng con người đến với nguồn sáng và nguồn sống đích thực. Còn hôm nay, không chừng tôi lại đang tục hoá ngày lễ thiêng liêng kia để rồi lòng mình cứ mãi lắng lo trong bao sự đời. Ngày xưa mùa Vọng đã trở nên lời nhắc nhở canh tân lối sống, sửa sang tâm hồn, dọn lòng mừng Chúa đến. Còn hôm nay, không chừng tôi chỉ nghĩ đến trang hoàng nhà cửa, giăng thêm đèn màu, mua sắm quà cáp chuẩn bị cho những cuộc liên hoan say sưa, cuồng loạn, có khi… tội lỗi. Một lần nữa, lời nhắn nhủ trong thơ của Thánh Phaolô lại thức tỉnh hồn tôi: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang lấy khí giới ánh sáng. Hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đãng, không tranh chấp ganh tị. Nhưng hãy mặc lấy Chúa Kitô, và chớ lo lắng thoả mãn các dục vọng xác thịt” (Rm 13:12-14). Thực hành lời khuyên nhủ trên là khởi sự Kitô hoá cuộc đời, là sống trọn vẹn hơn ý nghĩa của mùa Vọng năm nay, và chắc chắn, là bắt đầu cảm nếm niềm vui nhiệm mầu sâu lắng trong lễ Giáng sinh sắp đến. Mời các bạn cùng cầu nguyện với 3 phút Thánh vịnh

Thứ Năm, 25 tháng 11, 2010

Xem phim TQ : "Tiếu Ngạo Giang Hồ" - 2001 (40 tập)



Tiếu ngạo giang hồ là câu chuyện xoay quanh cuộc chiến giữa các phe phái trong võ lâm Trung nguyên để giành được bí kíp võ công Tịch tà kiếm phổ huyền diệu của nhà họ Lâm. Nhân vật chính của Tiếu ngạo giang hồ là chàng trai lãng tử Lệnh Hồ Xung - đại đệ tử phái Hoa Sơn, một trong Ngũ nhạc kiếm phái của võ lâm Trung nguyên). Lệnh Hồ Xung là một chàng trai nghĩa hiệp có tính cách lanh lợi, tư chất thông minh khác thường. Nhưng khi bị người yêu Nhạc Linh San phụ bạc, đồng môn hiểu lầm và bị trục xuất khỏi sư môn, Lệnh Hồ Xung đã lang thang, phiêu bạt khắp nơi và trải qua rất nhiều sóng gió.

Tên bước đường phiêu bạt đó, Lệnh Hồ Xung đã may mắn được nhiều cao thủ võ lâm truyền thụ võ công và trở thành một trong những đệ nhất võ lâm ở Trung nguyên. Với tấm lòng nhân ái, luôn biết hy sinh vì người khác, cuối cùng hạnh phúc cũng đến với Lệnh Hồ Xung. Anh đã lọt vào mắt xanh của thánh cô Nguyệt Thần giáo Nhậm Doanh Doanh. Cô sẵn sàng từ bỏ danh lợi, chấp nhận hy sinh cả tính mạng để xả thân cứu người mình yêu. Hai con người với tình yêu sâu nặng đã cùng nhau phiêu bạt khắp thế gian để hợp tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ do hai bậc tiền nhân là Khúc Dương và Lưu Chính Phong truyền lại.

Tiếu ngạo giang hồ là bài ca ca ngợi tình yêu cao đẹp, đức hy sinh và khao khát một cuộc sống không màng danh lợi, tiền bạc và quyền lực. Nét đặc sắc của bộ phim chính là tư tưởng chế nhạo sự giả dối trên giang hồ. Những kẻ luôn dùng thủ đoạn xấu xa để được là đệ nhất thiên hạ không bao giờ đạt được mục đích.

Mời các bạn cùng theo dõi bộ phim "Tiếu Ngạo Giang Hồ"

Xem phiên bản 2001 theo Playlist YouTube tại đây



Xem phiên bản 2013 theo Playlist YouTube tại đây



Xem phiên bản 2000 theo Playlist YouTube tại đây



Thứ Tư, 24 tháng 11, 2010

Nghe đọc truyện Hồ Biểu Chánh: "Cha con nghĩa nặng"



"Cha con nghĩa nặng" kể về chuyện Trần văn Sửu vốn là người thật thà, chăm chỉ, thương vợ, thương con, nhưng vợ lại là người lăng lòan. Một hôm Sửu bắt được vợ ngọai tình. Vợ ngọai tình lại còn ăn nói láo xược. Tức quá, Sửu xô vợ và không may vợ bị chết. Sửu phải bỏ trốn. Hai con Sửu được ông ngoại là Hương thị Tào nuôi, nhưng hòan cảnh quá nghèo, chúng phải đi ở. Lớn lên, cả hai anh em đều có cuộc sống ổn định, triển vọng và đang sắp lấy vợ, lấy chồng thì Sửu bỗng nhiên trở về.

_ Việc trở về của ông Sửu có làm ảnh hưởng việc lập gia đình của hai con không ? _ Pháp luật sẽ xử tội của ông Sửu như thế nào ?

Các bạn có thể xem truyện "Cha Con Nghĩa Nặng" tại đây . Bố cục của câu chuyện như sau:

Chương I: Gia đạo thôn phu
Chương II: Tức mà hỏi vợ
Chương III: Rủi tay rồi ăn năn
Chương IV: Quan làng tra xét
Chương V: Anh em thương nhau
Chương VI: Anh em một nhà
Chương VII: Anh vô tình, em có nghĩa
Chương VIII: Mẹ tha lỗi, con đền ơn
Chương IX: Con thảo, cha lành
Chương X: Rể hiền cứu cha vợ

Mời các bạn nghe đọc câu chuyện này theo file MP3 tại đây




Theo YouTube tại đây.


Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010

Du lịch : 7 kỳ quan thế giới cổ đại

Bảy kì quan thế giới cổ đại là một danh sách được nhiều người biết đến liệt kê các công trình kiến trúc và điêu khắc trong thời kì cổ đại. Danh sách này do nhà văn Hi Lạp Antipater xứ Sidon lập ra trong thế kỉ thứ 2 TCN, dựa trên tầm nhìn của người Hi Lạp thời ấy, chỉ gồm các công trình quanh Địa Trung Hải mà họ cho là vĩ đại và thể hiện văn minh của nhân loại. Danh sách này được ông thu thập từ các công trình của Herodotus (484 TCN–425 TCN), Callimachus (310 TCN/305 TCN-240 TCN), Philo xứ Byzantium (280 TCN - 220 TCN) 1.Kim Tự Tháp Giza Khu lăng mộ Giza, được xây dựng vào khoảng thế kỉ 26 trước Công nguyên, là một tổng thể gồm 3 kim tự tháp với chiều cao đỉnh kim tự tháp cao nhất là 145,75 m. Kim tự tháp Cheops trong quần thể kim tự tháp Giza, do một Pharaoh Vương triều thứ tư (tên là Khufu) xây dựng để làm mộ cho mình, đã huy động hơn 100.000 người lao động trong 30 năm, sử dụng hơn 230 vạn phiến đá nặng 6 tấn, nếu ngày nay dùng xe lửa chuyên chở thì cần đến 60 vạn toa xe. Độ nghiêng của các mặt bên Kim tự tháp vào khoảng 51,5 độ. Chiều cao của mặt nghiêng là 195 m. Bốn mặt của Kim tự tháp nhìn về 4 hướng: chính bắc, chính nam, chính đông và chính tây. Kim tự tháp của vua Chephren nằm phía sau kim tự tháp của Khufu và phía trước là kim tự tháp của Mycerinus. Ba kim tự tháp nhỏ hơn ở phía trước được xây cho ba người vợ của vua Mycerinus. Những kim tự tháp này quay mặt về bốn hướng chính. Tại đây còn có cả tượng nhân sư Sphinx nổi tiếng tạc hình mô phỏng Chephren. Kim tự tháp là kì quan thế giới duy nhất còn tồn tại hiện nay trong số bảy kì quan thế giới cổ đại. 2.Vườn Treo Babylon Vườn treo Babylon cũng được gọi là vườn treo Semiramis, là một công trình do vua Nebuchadrezzar II xây dựng năm 603 trước Công nguyên, trong đó cây được treo trên mái hiên, nhằm khuây khỏa nỗi nhớ quê hương xứ Medes của bà vợ vua Nebuchadnezzar II là Amyitis Trong vườn treo có một hệ thống đài phun nước gồm hai bánh xe lớn liên kết với nhau bằng dây xích có gắn thùng gỗ. Khi bánh xe quay, dây xích và thùng nước cũng chuyển động đưa nước ở một cái bể phía dưới lên trên cao tưới nước cho cây. Để tưới nước cho hoa và cây của khu vườn, các nô lệ phải luân phiên nhau đưa nước từ dòng sông Euphrates lên khu vườn. Vườn treo được sử gia Berossus mô tả đến đầu tiên năm 270 TCN 3.Tượng Thần Zeus - Olympia Được xây dựng vào năm 470-460 trước Công nguyên, cao 40 ft, rộng 22 ft, tạc hình thần Zeus ngồi trên ngai vàng, với làn da được làm từ ngà voi; râu, tóc, áo choàng làm bằng vàng. Tay phải cầm tượng thần Victory có cánh biểu tượng cho chiến thắng trong các kỳ Thế vận hội, tay trái cầm vương trượng trang trí hình chim đại bàng bằng kim loại, tượng trưng cho quyền lực tối cao của vị vua trong các vị thần. Đầu thần Zeus trang điểm vòng hoa ôliu. Ngai vàng làm bằng gỗ tuyết tùng và ngà. Chân thần đặt lên một ghế lớn. 4.Đền Artemis Đền thờ nữ thần săn bắn Artemis, còn được gọi là đền thờ Diana được xây dựng từ đá cẩm thạch bởi kiến trúc sư Chersiphron và con là Metagenes, dài 377 feet (115 m), rộng 180 feet (55 m, bao gồm 127 cột đá, ở thành phố Ephesus (nay thuộc Thổ Nhĩ Kì). Đền được bắt đầu xây dựng năm 550 TCN, trải qua quá trình xây dựng lại và mở rộng qua nhiều thời kỳ, lần cuối là năm 430 TCN sau 120 năm. Năm 356 TCN, ngôi đền bị lửa thiêu hủy vào đêm Alexandros Đại Đế chào đời. Một ngôi đền tương tự được xây lại trên nền ngôi đền cũ. Năm 262, người Goth đã đốt ngôi đền lần thứ hai. Chỉ phần nền và một số phần khác của ngôi đền thứ hai còn tồn tại đến ngày nay. Viện bảo tàng Anh ở Luân Đôn còn lưu một số di tích thuộc ngôi đền thứ hai. 5.Lăng Mộ Mausolus Lăng mộ được nữ hoàng Artemisia II xây dựng cho chồng là vua Mausolus của Caria thuộc khu vực Tiểu Á, từ năm 353 TCN đến 351 TCN, nhằm tôn vinh giá trị các thế lực cai trị thời giáo hoàng Jangvonhai. Lăng mộ được xây dựng tại thành phố Halicarnassus, thủ đô xứ Caria, nhờ có 1200 lao động, làm việc miệt mài trong thời gian là 17 năm. Chính từ ngôi mộ vua Mausolus đã là nguồn gốc của từ mausoleum (lăng mộ). Đến năm 1494, những hiệp sĩ St. John, một nhóm hiệp sĩ trong cuộc Thập tự chinh đã sử dụng những khối đá cẩm thạch của phần nền ngôi mộ để xây một lâu đài vào năm 1522. Hầu hết các khối đá ở đây được cắt thành từng mảnh nhỏ để xây lâu đài. Ngày nay lâu đài này vẫn còn tồn tại với những mảnh đá cẩm thạch được tách riêng khỏi ngôi mộ của vua Mausolus. 6.Tượng Thần Mặt Trời - Rhodes Tượng thần Mặt Trời ở Rhodes là tượng đồng khổng lồ thể hiện vị thần mặt trời Helios - vị thần bảo hộ thành Rhodes - đã có công giúp thành phố thoát khỏi cuộc bao vây của Demetrius "Poliorcetes", vua Syria, năm 305 trước Công nguyên. Theo nhiều giả thiết được đặt tại thành phố Rhodes, thủ phủ của đảo Rhodes, Ai Cập, tượng được xây dựng năm 280 TCN và sụp đổ trong một trận động đất vào năm 224 TCN. Tượng cao khoảng 105 feet (33 mét). 7.Ngọn Hải Đăng Alexandria Hải đăng AlexandriaHải đăng xây dựng dưới thời vua Ptolemy I, khánh thành khoảng năm 2001 TCN dưới thời vua Ptolemy II, bị sụp đổ hoàn toàn năm 1303 trong một trận động đất nghiêm trọng. Ngoại trừ Kim tự tháp ở Giza, hải đăng là công trình cao nhất trong thế giới cổ đại. Hải đăng đặt ngay lối vào cảng Alexandria, gồm 3 tầng, chiều cao khoảng 135 m. Bậc dưới cùng hình vuông, gồm nhiều phòng cho bộ phận canh gác hải đăng thường trực, gia súc và lương thực. Lối vào được tôn cao, đi vào bằng con đường dốc bắt đầu từ phần nền bao quanh tháp. Bên trong bậc hình vuông thấp hơn là một vách tường đỡ các phần trên của hải đăng, đến được phần trên này bằng con đường dốc xoáy trôn ốc bên trong. Bậc ở giữa có hình bát giác, phía trên bậc này là phần hình tròn có tượng thần Zeus. Mời xem clip giới thiệu về 7 kỳ quan thế giới cổ như sau :

Chủ Nhật, 21 tháng 11, 2010

Châu Tinh Trì và phim "Thần bài"

Châu Tinh Trì hay Chu Tinh Trì (sinh ngày 22 tháng 6 năm 1962) là một đạo diễn và diễn viên của rất nhiều bộ phim Hồng Kông ăn khách. Anh được coi là diễn viên hài xuất sắc nhất hiện nay của điện ảnh Hồng Kông với biệt danh Vua hài .Hai bộ phim gần đây nhất của Châu Tinh Trì là Đội bóng Thiếu Lâm và Tuyệt đỉnh công phu không chỉ gây tiếng vang ở Hồng Kông mà còn được yêu thích tại nhiều nước, bộ phim Tuyệt đỉnh công phu hiện đang giữ kỉ lục về doanh thu của điện ảnh Hồng Kông.



Khi còn nhỏ, Châu rất thích Kung Fu nhưng phải học môn võ này qua truyền hình vì cha mẹ anh không đủ tiền cho con theo học các lớp chính quy. Sau đó thì anh theo học Vĩnh Xuân Quyền và trở thành một người hâm mộ diễn viên Lý Tiểu Long. Cho đến tận ngày nay anh vẫn giữ niềm đam mê này và những bộ phim của Châu Tinh Trì thường có những cảnh gợi đến những tác phẩm Lý Tiểu Long tham gia diễn xuất.

Châu Tinh Trì tốt nghiệp lớp diễn viên của hãng TVB (thuộc tập đoàn Thiệu Thị) năm 1983 và bắt đầu tham gia vào ngành công nghiệp giải trí với vai trò người dẫn chương trình cho tiết mục thiếu nhi 430 Shuttle của đài TVB. Trong hơn 5 năm, anh cũng tham gia vào một số phim truyền hình của TVB nhưng không có vai diễn nào nổi bật và Chu vẫn chỉ là một diễn viên ít được chú ý. Vai diễn bước ngoặt cho sự nghiệp của Châu Tinh Trì và cũng định hình cho phong cách hài của anh là vai A Tinh trong bộ phim ăn khách Đổ thánh (Thánh bài) sản xuất năm 1990.

Các vai diễn sau đó của Chu được xây dựng từ thành công của Đổ thánh, anh dần dần hoàn thiện những vai hài của mình, đó thường là những nhân vật ban đầu có vẻ tầm thường nhưng sau đó lại đánh bại được tất cả đối thủ, hoặc lại là người tự cao tự đại để rồi sau đó bị làm nhục trước khi quay trở lại hạ gục những kẻ xấu.

Những vai diễn đáng chú ý theo môtíp này của Chu là trong các phim Học trường Uy Long năm 1991, Quốc sản 007 năm 1994 và Thần ăn năm 1996. Đôi khi những bộ phim của Châu Tinh Trì cũng lấy bối cảnh lịch sử làm nền như bộ phim Đường Bá Hổ điểm Thu Hương sản xuất năm 1993 với sự tham gia diễn xuất của Củng Lợi.

Tuy nhiên đôi khi Châu Tinh Trì cũng có những vai diễn thoát khỏi môtíp hài quen thuộc của mình, một ví dụ điển hình là vai Tôn Ngộ Không trong bộ phim ăn khách Tân Tây du kí công chiếu năm 1994, trong bộ phim này Chu đã thể hiện những cảnh diễn nội tâm của nhân vật rất tốt và anh đã được trao giải Diễn viên nam xuất sắc nhất của Hội phê bình điện ảnh Hồng Kông cho vai diễn này. 

Từ năm 1994, Châu Tinh Trì đã bắt đầu tự viết kịch bản và đạo diễn cho một số bộ phim. Bộ phim Đội bóng Thiếu lâm đã phá vỡ kỉ lục doanh thu tại Hồng Kông năm 2001, kỉ lục này lại tiếp tục bị vượt qua bởi bộ phim tiếp theo của Chu là Tuyệt đỉnh công phu năm 2004.

Mời các bạn cùng theo dõi các bộ phim "Thần bài" do Châu Tinh Trì thủ vai chính tại đây


Thứ Bảy, 20 tháng 11, 2010

Phúc âm Chúa Nhật 34 Q.N.C : Lễ Chúa Ki Tô Vua (21/11/2010)

Nguồn : www.40giayloichua.net Mời cùng tĩnh tâm với chủ đề "MÀU NHIỆM CỦA TÌNH YÊU" của Đài Radio Mẹ Hằng Cứu Giúp LỄ CHÚA GIÊSU LÀ VUA Lm.Carôlô Hồ Bạc Xái * 1. Nguồn gốc và ý nghĩa Lễ Chúa Giêsu là Vua Một triết gia đã đưa ra một nhận định rất bi quan: "Homo homini lupus": con người là lang sói của con người. Lang sói là một loài thu dữ, bản tính thích tấn công, cắn xé và giết chóc. Thế mà loài người lại giống với loài thú dữ đó, luôn luôn tấn công nhau, cấu xé và giết chóc nhau. Bởi vậy một sử gia đã đưa ra một kết luận tương tự với nhận định bi quan của triết gia trên: lịch sử loài người là một chuỗi những cuộc chiến tranh liên tiếp nhau. Từ khi có loài người trên mặt đất này cho đến nay, có mấy khi mà loài người được hưởng thái bình? Hầu hết thời gian lịch sử của loài người đều là chiến tranh. Gần đây nhất là 2 cuộc thế giới đại chiến, cuộc thứ nhất kéo dài từ năm 1914 đến 1918, làm cho 8. 700. 000 người chết; cuộc thứ hai từ năm 1939 đến năm 1945, giết chết thêm 40 triệu sinh mạng nữa. Và hiện nay cả loài người đều phập phòng lo sợ sẽ xảy ra một cuộc đại chiến lần thứ 3 với những vũ khí hạt nhân. Lần này không phải chỉ có 8. 700. 000 người chết, hay 40 triệu người chết mà là tất cả mọi người, trái đất sẽ nổ tung, toàn thể loài người sẽ bị tiêu diệt. Tại sao loài người chúng ta, một loài người có trí khôn, biết suy nghĩ, một loài cao hơn tất cả mọi loài vật khác mà lại cư xử với nhau một cách ngu xuẩn như vậy? Thưa vì trong con người chúng ta vừa có tính thú vừa có tính người: tính thú thì giống như loài lang sói hung dữ cấu xé lẫn nhau, còn tính người là có trí khôn biết suy nghĩ biết tính toán. Khi buông trôi theo tính thú thì loài người chiến tranh với nhau; và nếu con người lại dùng cái trí khôn ngoan của tính người để phục vụ cho cái tính thú kia thì con người lại càng dã man hung dữ làm hại nhau còn hơn loài sang sói đích thực nữa. Điều đáng tiếc là trong hầu hết lịch sự quá khứ, con người đã buông theo cái tính thú đó. Vì thế mà lịch sử loài người đã là lịch sử của một chuỗi những cuộc chiến tranh liên tiếp nhau. Cho nên trong bối cảnh giữa 2 cuộc chiến tranh thế giới làm chết hàng mấy chục triệu sinh mạng con người như thế, ngày 11.12.1925, Đức Giáo Hoàng Piô XI đã thiết lập Lễ Chúa Kitô Vua, mục đích là để cầu nguyện cho loài người thôi đừng buông theo tính thú mà cấu xé lẫn nhau, các nước đừng nuôi mộng bá chủ hoàn cầu mà chinh chiến với nhau; nhưng mọi người hãy suy phục vương quyền Chúa Kitô và xây dựng vương quốc của Ngài, Đức Giáo Hoàng coi đó là chấm dứt chiến tranh. Sở dĩ loài người cứ luôn làm hại làm khổ lẫn nhau là vì loài người còn sống theo cái tính thú trong mình. Vậy nếu muốn cho loài người hoà thuận với nhau để cùng nhau chung hưởng thái bình thì loài người phải sống theo cái tính người, gồm có những đức tính mà Chúa đã dạy chúng ta trong Tin Mừng. Con người sống đúng là con người. Chúa Giêsu gọi đó là Sự Thật; còn ngôn ngữ phụng vụ hôm nay thì gọi đó là vương quyền, vương quốc của Chúa Kitô. Nước Chúa. Ai sống theo những giá trị Tin Mừng để thành người hơn thì người đó thuộc về Nước Chúa; ai giúp cho người khác sống theo những giá trị Tin Mừng ấy thì người đó đang mở mang Nước Chúa; và khi mọi người, dù có đạo hay không có đạo, đều sống theo những giá trị Tin Mừng ấy, thì đó là thời Nước Chúa đã trị đến. Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ. Giáo hội đặt lễ Chúa Kitô Vua vào Chúa Nhật cuối cùng này, cũng có ý nghĩa: đó là ước nguyện sao cho cuối cùng tất cả mọi người đều ở trong Nước Chúa, một nước chỉ có hoà thuận yêu thương, một nước thái bình hạnh phúc. Phần mỗi người chúng ta, hãy cố gắng xứng đáng là một công dân Nước Chúa, nghĩa là biết sống đúng tính người, sống theo lương tâm, sống hoà thuận, yêu thương, làm việc lành theo lời dạy của Tin Mừng. Chúng ta cũng hãy cố gắng mở mang Nước Chúa bằng cách làm cho thêm nhiều người khác cũng biết sống hoà thuận yêu thương sống theo lương tâm và làm việc lành như vậy. * 2. Chân lý cuối cùng Trong những Chúa nhựt cuối của năm phụng vụ, Lời Chúa mời chúng ta nghĩ đến lúc tận cùng của thời gian, để thấy trước khi ấy tình hình sẽ như thế nào, và nhờ đó mỗi người cũng biết điều chỉnh cuộc sống mình trong hiện tại cho phù hợp với viễn ảnh cuối cùng ấy. Bằng ngôn ngữ khải huyền, các sách Tin Mừng mô tả lúc đó mặt trời mất sáng, mặt trăng tối sầm lại và các tinh tú trên trời rụng xuống. Qua những hình ảnh lạ lùng ấy, tác giả muốn nói rằng khi đến lúc tận cùng của thời gian, tất cả mọi thứ mà xưa nay người ta coi là quyền lực đều sụp đổ hết, để chỉ còn quyền lực của Thiên Chúa tồn tại và ngự trị. Còn sách Huấn ca Ben Sira thì mô tả một cách thi vị hơn và bằng những hình ảnh gần gũi hơn: "Phù hoa nối tiếp phù hoa, trần gian tất cả chỉ là phù hoa. . . Hoa nào không phai tàn. Trăng nào không khuyết Ngày nào mà không có đêm. Yến tiệc nào không có lúc tàn Phù hoa nối tiếp phù hoa. . . " Một thi sĩ khác cũng có những suy nghĩ tương tự, ông suy nghĩ về thời gian: "Khi tôi là một đứa trẻ. . . tôi thấy thời gian bò tới Khi tôi là một thanh niên. . . tôi thấy thời gian đi bộ Khi tôi trưởng thành. . . tôi thấy thời gian chạy Cuối cùng khi tôi bước vào tuổi chín muồi thì thấy thời gian bay Chẳng bao lâu nữa tôi chết, lúc đó thời gian đã đi mất Ôi lạy Chúa Giêsu, khi cái chết đến, thì ngoài Ngài ra, không còn gì là quan trọng nữa" Những dẫn nhập khá dài dòng trên chỉ nhằm giúp chúng ta hiểu bài Tin Mừng lễ Chúa Kitô Vua hôm nay theo đúng hướng mà Phụng vụ của ngày Chúa nhựt cuối năm Phụng vụ muốn chúng ta hiểu. Trong hướng đó, chúng ta thấy được một số chân lý sau đây: Thứ nhất: Đến lúc tận cùng của thời gian, nghĩa là đến ngày tận thế, hoặc ngày chết của mỗi người, thì chúng ta sẽ thấy tất cả đều sẽ sụp đổ: tiền bạc, danh vọng, sức khoẻ, thế lực, thú vui. . . . Tất cả đều không còn ý nghĩa và tầm quan trọng gì đối với bản thân mình hết. Đúng như lời của bài thơ chót mà tôi vừa đọc: "Lạy Chúa Giêsu, khi cái chết đến thì ngoài Ngài ra không còn gì là quan trọng nữa". Thứ hai: Nếu khi đó chỉ có Chúa là quan trọng thì từ trước tới lúc đó trong cuộc sống, chỉ những ai gắn bó và nương dựa vào Chúa mới thấy yên lòng; còn những người quen tìm kiếm, chạy theo và nương dựa vào những thế lực khác như tiền bạc, quyền lực, thú vui v. v. sẽ thấy chới với, cô đơn, trơ trụi. . . Thứ ba: Khi đó, đối với tất cả mọi người, dù tin hay không tin, dù tốt hay xấu, mọi người đều mở mắt và nhận thực rằng Chúa Giêsu chính là Kitô và là Vua thật. Kitô nghĩa là Đấng Cứu Vớt, Vua nghĩa là Đấng thống trị. Nhiều người trong lúc còn sống đã tưởng rằng nguồn cứu vớt của họ và thế lực hỗ trợ họ là tiền tài danh lợi thế gian, nhưng khi đó họ sẽ biết họ lầm. Chẳng hạn các nhân vật trong bài Tin Mừng hôm nay: Các thủ lãnh Do Thái, quân lính, Philatô và tên gian ác ở bên trái Ngài. Chiều hôm đó trên đồi Sọ, họ tưởng Chúa Giêsu đang thất thế vì rõ ràng Ngài đang bị treo, bị đóng đinh dính cứng vào thập giá. Họ chế nhạo Ngài "Nào có giỏi thì thử xuống khỏi thập giá đi". Họ cũng gọi Ngài là Kitô đó, cũng gọi Ngài là Vua đó, nhưng gọi một cách mỉa mai, gọi để nhạo báng: chẳng qua hắn chỉ là một tên Kitô dỏm, một ông vua cỏ mà thôi! Nhưng đến ngày cùng tận, tất cả những người ấy sẽ sửng sờ khi thấy kẻ bị họ nhạo báng ấy lại xuất hiện với tất cả uy quyền và vinh quang, để xét xử và trừng phạt họ. Ngài đúng là Kitô và là Vua. Chiều hôm ấy trên đồi sọ, chỉ có một người đã nhận biết Ngài, đó là người trộm lành ở bên phải. Anh đã tin Ngài là Vua nên anh nói "Khi nào Ngài vào Nước của Ngài"; anh cũng tin Ngài là Đấng Kitô cứu thế nên mới thưa "Xin Ngài cứu tôi, xin hãy nhớ đến tôi". Và chúng ta hãy suy nghĩ: hiện bây giờ người trộm lành ấy đang ở đâu? Chắc chắn anh đang ở bên Chúa và hưởng hạnh phúc trong nước Chúa, như lời Chúa Giêsu đã hứa với anh chiều hôm ấy: "Ta bảo thật, ngay hôm nay anh sẽ được ở với Ta trên thiên đàng". Thật hạnh phúc thay cho người trộm lành, cả một đời gian ác tội lỗi, nhưng cuối cùng đã gặp được hạnh phúc thiên đàng, nhờ anh đã hiểu được phải trao cuộc đời cho ai và bám víu vào ai. Cái chân lý mà mãi đến phút cuối đời người trộm lành mới thấy được ấy, Phụng vụ muốn chỉ cho chúng ta thấy ngay từ hôm nay: Chúa Giêsu chính là Đấng Kitô cứu vớt, Ngài chính là Vua. Ngoài Ngài ra không có ai, không có cái gì là vua thật và có thể cứu chúng ta thật. Vậy ngay từ hôm nay chúng ta hãy quyết định trao gởi cuộc đời mình cho Ngài, sống gắn bó với Ngài, và từ bỏ tất cả những gì nghịch với Ngài. Có như thế chúng ta mới có thể hưởng hạnh phúc muôn đời bên cạnh Ngài, là Kitô thật và là Vua thật của chúng ta. * 3. Cơn cám dỗ cuối cùng Vua Cảnh Công nước Tề, một hôm lên chơi núi Ngưu Sơn. Nghĩ rằng có ngày sẽ phải chết và giang sơn gấm vóc lại lọt vào tay kẻ khác, vua liền trào nước mắt tiếc thương. Đoàn tuỳ tùng thấy vua khóc cũng khóc theo. Duy chỉ có Án Tử là chúm miệng cười. Vua chau mày hỏi: - Tại sao người ta ai cũng khóc cả, mà nhà ngươi lại cười? Án tử trả lời: - Nếu các vua đời trước mà sống, thì vua ngày nay hẳn còn phải mặc áo tơi đội nón lá. Nhờ thế sự thăng trầm mà nay đến lượt vua được mặc áo gấm, đội mũ ngọc. Thế mà vua lại khóc. Thấy đấng làm vua bất nhân, bầy tôi siểm nịnh, tôi không cười sao được? * Vua trần gian có thần dân để cai trị, có quan quân để sai khiến, có tiền của mỹ nữ để truy hoan. Chúa Giêsu trái lại, Người không làm vua theo kiểu thường tình ấy. Người đã khẳng định: "Nước tôi không thuộc về thế gian này" (Ga 18, 36). Vì thế, cung cách của vị vua Giêsu hoàn toàn mới lạ. Tin Mừng hôm nay sẽ nói lên tính cách Vương Quyền ấy của Người. Dưới hình thức nhạo báng của các thủ lãnh Do thái, của lính tráng, của bản án treo trên thập giá, đã nói!ên vương quyền của Chúa Giêsu: "Hắn đã cứu được người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấâng Ki tô của Thiên Chúa, người được Thiên Chúa tuyển chọn" (Lc 23, 35). "Đấng Kitô" chính là người được xức dầu, là tước hiệu của vua. "Người Thiên Chúa tuyển chọn" chính là tước hiệu Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Nhất là lời tuyên xưng của người trộm lành đã nói lên vương quyền của Người: "Khi nào về Nước của Người, xin nhớ đến tôi" (Lc 35, 42). Tuy nhiên, nước của Chúa Giêsu không nhằm tư lợi cá nhân như các thủ lãnh khiêu khích, cũng không để ra oai quyền uy như bọn lính thách thức. Nước của Người là Nước Tình Yêu, vương quyền của Người là để phục vụ. Vì thế, Người đã không "xuống khỏi thập giá" cách ngoạn mục, nhưng đã "kéo mọi người" lên với Người (Ga 13, 32). Người đã không "cứu lấy chính mình", nhưng đã "cứu lấy mọi người" khỏi chết muôn đời nhờ cái chết của Người. Người đã sẵn lòng chịu chết giữa hai tên gian phi, như lời Kinh Thánh rằng: "Người đã hiến thân chịu chết và bị liệt vào hàng phạm nhân" (ls 53, 12). Người đã hoà mình trong đám người tội lỗi, đã chịu chung số phận của họ, Người đã sống và đã chết giữa đám tội nhân, như lời đồn đại về Người: "Bạn của người thu thuế và phường tội lỗi" (Mi 11, 19). Vâng, vương quyền của Người không cai trị bằng sức mạnh biểu dương, nhưng chinh phục bằng "khối" tình yêu thương. Chính vì thế mà Người đã chiến thắng cơn cám dỗ cuối cùng, là lời thách thức xuống khỏi thập giá, để sẵn lòng chịu chết hầu cứu chuộc con người tội lỗi, chính là thần dân của Người, Thần dân đầu tiên mà vị Vua có vương miện là mão gai, và ngai vàng là gỗ thánh giá đã chinh phục, chính là người trộm lành. Giữa lúc những kẻ trước đây tung hô vạn tuế nay lại nhạo báng Người, giữa lúc các môn đệ thề sống chết với Người nay lại bỏ trốn hết, thì chỉ có một mình anh, người trộm lành, lên tiếng bênh vực Người: Anh mắng người trộm dữ: "Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này có làm điều gì trái!" (Lc 35, 40-41). Anh tỏ lòng kính sợ Chúa và ăn năn sám hối, đó là thái độ của người sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ. Hơn nữa giữa lúc chương trình của Chúa Giêsu dường như thất bại, không còn hy vọng cứu vãn; giữa lúc thập tử nhất sinh, gần kề cái chết, thì chỉ mình anh, người trộm lành, đã tin vào Chúa, tin vào sự sống đời sau, và tin vào vương quyền của Người. Anh cầu nguyện: "Lạy Ngài, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi". Người nhận lời tức khắc: "Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta" (Lc 35, 43). Một lời hứa mà Người chưa hề ban cho ai dù đó là người thân tín và yêu quí nhất của Người. Một lời hứa được thực hiện ngay tức thì, không đợi đến sáng phục sinh hay ngày thế mạt. Một lời hứa đi vào vương quốc của những người công chính, qui tụ quanh vua Giêsu vinh hiển. Lời hứa ban hạnh phúc cho anh trộm lành chính là cuộc sống thân mật với Vua Giêsu, mà anh đã chia sẻ số phận của Người trên thập giá. Cuộc đời của anh tưởng chừng như vĩnh viễn khép lại, nhưng chỉ với một chút niềm tin trong anh bừng sáng, một lòng sám hối chân thành, đã khiến cửa trời rộng mở, đón tiếp anh thênh thang bước vào. Chính từ khi anh trộm lành nhận ra người tử tù bị đóng đinh là vua trời, nhận ra sự sống trong cõi chết, phục sinh trong tử nạn, thì Vua Giêsu tiếp tục lan rộng cuộc chinh phục đến viên đại đội trưởng khiến ông cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa: "Người này quả thật là công chính" (Lc 23, 48). Và trong suốt 2000 năm qua, Người vẫn luôn đón nhận vào trong vương quốc tình yêu của Người; những thần dân biết duy trì tinh thần hiệp nhất, phục vụ và yêu thương. Chỉ những ai biết sám hối ăn năn, tin nhận vào quyền năng và tình thương của Chúa như anh trộm lành, môi được vào trong vương quốc của Người. Chỉ những người biết kính sợ Thiên Chúa và tin tưởng vào sự sống đời sau mới được ban cho Nước Trời. * 4. Hai tên gian phi Các sách Tin Mừng ghi nhận rằng cùng bị đóng đinh chung với Chúa Giêsu hôm ấy còn có hai tên gian phi. Phần Tin Mừng theo thánh thì phân biệt có một người đã sám hối, còn người kia thì không. Chúng ta hãy xem xét từng người. Trước tiên là tên gian phi không sám hối. Hắn chẳng còn tình cảm, chẳng còn lương tri, chẳng còn nhân tính gì nữa cả. Bởi vì tới lúc sắp chết mà hắn cũng không chút hối hận. Ngay cả Chúa Giêsu cũng chẳng thể cứu hắn. Thực vậy, chẳng ai có thể cứu được người không chịu để cho mình được cứu. Tấm lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn có sẵn đấy, nhưng tối thiểu con người phải muốn đón nhận. Oscar Wilde viết: "Kẻ đang ở trong tình trạng nổi loạn không thể nhận được ơn sủng". Chúng ta nhìn sang tên gian phi sám hối. Nhiều người đã nghĩ rằng người này được cứu độ dễ dàng quá: sau một đời tội lỗi, anh ta chỉ cần nói với Chúa Giêsu một lời thôi thì được tha thứ hết. Anh đã ăn trộm mọi thứ, và cuối cùng lại ăn trộm luôn thiên đàng nữa. Có người khắt khe nghĩ rằng ít ra Thiên Chúa phải bắt anh ta ở trong luyện ngục một thời gian nào đó mới phải. Thực ra nếu tìm hiểu kỹ trường hợp anh ta, chúng ta sẽ thấy rằng anh đã làm được một việc không phải là nhỏ và cũng không phải là dễ: Khi bị treo trên thập giá, anh không buông theo khuynh hướng xấu có sẵn trong mình mà bực bội và bất mãn để rồi có những phản ứng như tên gian phi kia, là thù người và hận đời rồi chửi bới lung tung. Thay vào đó, anh nhìn lại chính cuộc đời của mình. Anh đã thấy gì? Thấy cả đời anh chỉ là một đống rác rưởi chẳng có chút gì tốt cả. Từ đó anh ý thức rằng mình đã làm hỏng tất cả: không phải chỉ làm hỏng nhiều việc, mà còn làm hỏng chính cuộc đời mình. Anh biết tội mình, anh nhận trách nhiệm về đời mình. Sau đó anh lên tiếng can gián tên gian phi kia đừng chửi rủa Chúa Giêsu nữa. Và anh quay sang kêu xin Ngài "Ông Giêsu ơi, khi nào Ông vào Nước của Ông, xin nhớ đến tôi". Người ta vẫn có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác chứ không chịu nhận trách nhiệm vào mình. Chuyện gì cũng nói "tại cái này", "bị cái khác", "do người này", "vì người nọ" v. v. Nhiều người còn viện vào khoa tâm lý mà ngụy biện rằng chẳng có gì là tội thực sự cả, tất cả chỉ do hoàn cảnh đẩy đưa; con người bị tác động bởi nhiều động cơ vượt tầm kiểm soát của mình. Người gian phi sám hối bị tác động bởi hoàn cảnh bên ngoài nhiều lắm chứ: những đau đớn thể xác làm anh khó chịu, những tiếng la ó của dân chúng làm anh tự ái, án tử hình thập giá làm anh nhục nhã… Những thứ ấy đều xúi anh nổi loạn. Ngoài ra cái chết gần kề cũng xúi anh thất vọng: tới giờ phút này còn hy vọng gì sửa đổi tình thế được nữa; vả lại tội anh đã quá nhiều và quá rõ... Có thể sám hối được trong hoàn cảnh như thế không phải là một việc dễ. Tuy nhiên anh đã sám hối. Việc sám hối ấy đã mang lại cho anh chẳng những ơn tha thứ, mà còn cả thiên đàng. Người gian phi sám hối dạy cho chúng ta biết rằng: không bao giờ là quá trễ để quay về với Chúa, không tội nào là quá nặng để không được thứ tha, bao lâu ta còn thở là ta còn cơ hội để hưởng lòng thương xót Chúa. * 5. Chúa Giêsu là vua như thế nào? a. Làm vua có thể có nhiều cách, không nhất thiết cứ phải có đất đai, lãnh thổ, có quân đội, triều đình... mới là vua. Người ta vẫn nói: «vua dầu lửa», «vua xe hơi», «vua bóng đá», v. v... mặc dù những ông vua này không có quân đội, không cai trị ai. Chúa Giêsu không những làm vua hiểu theo nghĩa bóng, mà đích thực Ngài là vua hiểu theo nghĩa đen, nghĩa chính thức của từ «vua». Trước hết, Ngài là vua, vua của cả vũ trụ, của cả trần gian, của cả nhân loại, vì Ngài chính là Ngôi Lời, một trong Ba Ngôi Thiên Chúa đã tạo dựng nên muôn loài vạn vật trong vũ trụ. Thánh Kinh viết: «Nhờ Ngài, vạn vật được tạo thành, và không có Ngài thì chẳng có gì được tạo thành» (Ga 1, 3; xem 1, 10). Ngài là vua của thế giới, nên đến ngày chung cuộc, chính Ngài sẽ là người đến phán xét trần gian với tư cách một vị vua (Mt 25, 34). Thế gian này có nhiều nước, mỗi nước có một ông vua. Nhưng Ngài là vua cả thế gian, cả vũ trụ, nên Ngài là Vua trên hết các vua, là Vua của muôn vua. b. Đức Kitô là vua. Nhưng Ngài khác với các vua khác ở chỗ: để cai trị, các vua khác dùng quyền lực, còn Ngài dùng tình thương. Thật vậy, Ngài yêu thương mọi người, mọi con dân của Ngài như người mục tử tốt lành yêu thương chăn dắt đoàn chiên, biết rõ từng con chiên một, và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì lợi ích của chiên (xem Ga 10, 11-16). Ngài hành xử như thế vì Ngài là Thiên Chúa, mà «Thiên Chúa là tình yêu» (1 Ga 4, 8). Trong thực tế, Ngài đã hy sinh chết trên thập giá một cách khổ nhục để cứu nhân loại, là con dân được Thiên Chúa trao cho Ngài quyền cai trị. c. Chúa Giêsu không chỉ là vua vũ trụ, vua của cả trần gian, mà Ngài còn là vua của tâm hồn mỗi người. Vì yêu thương, vị vua ấy ngự ngay trong thâm cung tâm hồn của mỗi người để sẵn sàng thi ân giáng phúc, ban sức mạnh, thánh hóa, làm cho họ ngày càng tốt đẹp, mạnh mẽ và hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, Ngài có làm được điều đó hay không còn tùy thuộc vào sự tự do chấp nhận và sự tự nguyện cộng tác của chúng ta. Ngài sẽ không làm được gì cho chúng ta nếu chúng ta không muốn Ngài làm, hoặc nếu chúng ta hoàn toàn thụ động không cộng tác gì vào công việc mà Ngài muốn làm cho ta. Để Ngài có thể hành động biến đổi ta nên tốt đẹp, mạnh mẽ, thánh thiện hơn, ta cần tôn Ngài làm vua tâm hồn mình, bằng cách: Trước tiên, phải thường xuyên ý thức về sự hiện diện của Ngài ở trong ta. Kế đến là ý thức rằng Ngài là tình thương, Ngài yêu thương ta hơn tất cả mọi người, và sẵn sàng làm tất cả những gì ta cần cho sự phát triển và hạnh phúc của ta. Đồng thời ý thức Ngài là sức mạnh toàn năng, có thể thực hiện tất cả những gì Ngài muốn nơi ta. Vì thế, ta nhường quyền làm chủ bản thân ta cho Ngài, để Ngài hoàn toàn làm chủ bản thân ta. Ta không còn hành động theo ý riêng ta nữa, mà hoàn toàn hành xử theo ý của Ngài. Vì Ngài yêu thương ta, sáng suốt và khôn ngoan hơn ta rất nhiều, lại có khả năng làm tất cả những gì Ngài muốn, nên ta hãy hoàn toàn phó thác vận mệnh của ta cho Ngài. Và cuối cùng là luôn luôn sống trong bình an, hạnh phúc của một người được Đức Kitô yêu thương và phù trợ. Hãy hưởng niềm hạnh phúc của một người được Vua của cả trần gian này yêu thương và quan tâm săn sóc. Hãy tin tưởng và luôn luôn an tâm rằng nhờ quyền năng của Ngài, tất cả những gì xảy đến cho ta đều hết sức có lợi, đều trở nên vô cùng tốt đẹp cho ta, cho dù hiện nay ta chưa hiểu rõ. Nắm vững điều đó, ta sẽ thấy có Đức Kitô ngự trong tâm hồn mình là như có được một «cây đèn thần» trong tay, một «bùa hộ mạng» an toàn, một «vị thần bảo trợ» hữu hiệu, một «người tình chung thủy» luôn luôn ở với ta suốt cuộc đời. Lúc đó ta sẽ sung sướng cảm nghiệm được như thánh Phaolô: «Tôi làm được tất cả mọi sự nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi» (Pl 4, 13). (Nguyễn chính Kết) * Lạy Chúa, xin cho đức tin chúng con đủ mạnh để thấy Chúa không ngừng lôi kéo cả thế giới về với Người. Xin dạy chúng con luôn cộng tác với Chúa để xây dựng Nước Trời ngay trong cuộc sống này, nhờ biết đẩy lui sự dữ trên địa cầu, trong khi kiến tạo an bình và yêu thương. Amen. TÊN TRỘM VÀ NGƯỜI CHỦNG SINH Cha Mark Link, S.J. Chủ đề: "Vị Vua bị đóng đinh muốn tha thứ chúng ta như Người đã tha thứ cho tên trộm lành trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đầu tiên" Tập san Catholic Digest có mục thường xuyên được gọi là "The Open Door" (Cửa Rộng Mở). Trong mục này thường có hai hay ba câu chuyện do độc giả gởi đến. Những câu chuyện này kể lại sự hoán cải trở lại đạo Công Giáo của độc giả. Có một câu chuyện thật cảm động về chàng thành niên lớn lên trong một gia đình Công Giáo, từng tích cực hoạt động trong Giáo Hội, và sau đó gia nhập chủng viện. Rồi đến những năm đầy xáo trộn thời chiến tranh Việt Nam. Trong thời gian này, ba sinh viên ở một đại học Ohio bị giết trong lúc biểu tình phản đối chiến tranh. Những cuộc dấy loạn về sắc tộc như xé nát nhiều thành phố trong nước. Các nhà lãnh đạo quốc gia bị ám sát. Mọi sự bỗng dưng trở nên rời rạc. Chàng thanh niên này rời chủng viện, tham gia phong trào chống chiến tranh, từ bỏ Giáo Hội, và chế nhạo đức tin mà trước đây anh từng ấp ủ. Gia đình anh bàng hoàng vì sự thay đổi này. Và khi thái độ của anh ngày càng thù nghịch với tôn giáo, họ đã hoàn toàn tuyệt vọng. Sau đó là Tuần Thánh và trong Thứ Sáu Tuần Thánh năm 1970, chàng thành niên, lúc ấy 22 tuổi, lái xe ngang qua một nhà thờ Công Giáo. Anh nhận ra tên của cha xứ trên tấm bảng trước nhà thờ. Đó là vị linh mục anh rất kính trọng. Điều gì đó đã thúc đẩy anh dừng xe và đi vào nhà thờ. Khi bước vào cửa, nghi thức Tôn Kính Thánh Giá bắt đầu. Anh ngồi ở hàng ghế cuối cùng. Anh theo dõi dân chúng xếp hàng lên hôn thánh giá, trong khi ca đoàn hát bài "Were You There When They Crucified My Lord?" (Bạn có ở đó khi họ đóng đinh Chúa không?) Và rồi điều gì đó thật lạ lùng đã xảy ra. Anh viết: "Trong con người tôi, điều gì đó đột ngột xảy ra và tôi bắt đầu khóc. Sau khi dằn được xúc động, tôi nhớ lại sự bình an mà từ lâu tôi đã bỏ lại nơi nhà thờ. Đức tin đơn sơ mà giờ đây tôi đang chứng kiến thì dường như có ý nghĩa hơn là điều tôi tuyên xưng. Tôi bước ra khỏi ghế và quỳ xuống hôn Thánh Giá. Vị linh mục nhận ra tôi, ngài đến ôm lấy tôi." "Từ ngày đó trở đi," anh cho biết, "tôi trở nên một người Công Giáo tái sinh." Anh kết thúc với nhận xét sau: "Tại sao tôi dừng xe ở nhà thờ đó vào ngày hôm ấy, cho đến giờ tôi vẫn không hiểu, nhưng tôi biết rằng tôi thật sung sướng với các kết quả." Tôi thích câu chuyện này vì nó thích hợp với các bài đọc trong ngày lễ Chúa Giêsu là Vua hôm nay. Vì bài Phúc Âm diễn tả một thanh niên vô tôn giáo, đầy giận dữ đã hoàn toàn thay đổi cuộc đời vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đầu tiên cách đây hai ngàn năm. Và điều thay đổi cuộc đời của người thanh niên này cũng chính là điều thay đổi anh chủng sinh trong câu chuyện. Đó chính là việc đóng đinh Đức Kitô. Đó là việc đóng đinh Đức Kitô Vua. Và điều mà Đức Kitô trên thập giá đã nói với người trộm thì Người cũng nói với anh chủng sinh: "Ta hứa với con là hôm nay con sẽ ở với Ta trên thiên đàng." Thật khó có bài đọc nào thích hợp hơn để kết thúc năm phụng vụ. Nó tóm lược lý do tại sao Chúa Giêsu đến trong thế gian. Chính là để tha thứ cho tội nhân, như tên trộm-và như anh chủng sinh. Và điều này đưa chúng ta đến việc áp dụng tất cả những điều này vào thực tế đời sống chúng ta. Đó là: Điều Chúa Giêsu đã làm cho người trộm lành và anh chủng sinh, Người cũng muốn làm cho chúng ta. Người muốn tha thứ tội lỗi chúng ta, bất kể có to lớn đến đâu và lâu đời đến đâu. Người muốn nói với chúng ta điều mà Người đã nói với tên trộm và anh chủng sinh: "Ta hứa với con là hôm nay con sẽ ở với Ta trên thiên đàng." Đây là tin mừng khiến chúng ta quy tụ nơi đây để mừng lễ Kitô Vua. Đó là tin mừng mà Chúa Giêsu muốn đi vào cuộc đời chúng ta và thi hành cho chúng ta điều mà Người đã làm cho tên trộm và anh chủng sinh. Thánh Phaolô diễn tả tin mừng đó trong bài đọc hai hôm nay: Thiên Chúa đã cứu chúng ta khỏi quyền lực tối tăm và đưa chúng ta một cách bình an đến vương quốc của Con yêu dấu của Người, mà nhờ Người chúng ta được tự do, đó là, chúng ta được tha thứ mọi tội lỗi. GIÊ SU - VUA TÌNH YÊU Phêrô Phạm Văn Hoành Op Ngày lễ Chúa Kitô Vua, Giáo Hội trình bày cho ta thấy ý nghĩa đích thực Vương quyền của Chúa Giêsu, cách thế Ngài tiến lên đài vinh quang, cách Ngài chinh phục con người, đồng thời cũng cho ta thấy rằng : vương quyền của Ngài cũng sẽ bị chống đối trong giai đoạn hiện tại. Các thủ lãnh tôn giáo nhạo cười và thách thức Ngài, “Hãy tự cứu mình đi”. Những người lính cũng nhạo cười Chúa, cho Người uống giấm, và Phi-la-tô đóng đinh Người trên thập giá với câu nói đầy sự mỉa mai : “Đây là vua người Do-thái”. Thế nhưng những kẻ đó đã vô tình làm ứng nghiệm lời trong Tv.22, 8 “Thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bỉu mỏ buông lời mỉa mai“ . Chúa Giêsu đã bước lên đài vinh quang uy quyền, qua đau khổ như lời các tiên tri đã loan báo. Ngài không xuống khỏi thánh giá như lời thách thức của các đầu mục Do-thái, nhưng Ngài đã đáp lại bằng cách kéo mọi sự lên cùng Ngài : kẻ trộm lành nhìn nhận Ngài, viên đội trưởng tôn Ngài là người công chính, dân chúng đấm ngực hối lỗi, và muôn dân sẽ nhờ Ngài mà được trở thành con Thiên Chúa, Ngài hạ mình và Thiên Chúa sẽ tôn vinh Ngài lên. Chúa Giêsu không phủ nhận Vương quyền của mình. Trước tòa án, Chúa Giêsu đã xác nhận với tổng trấn Phi-la-tô: “Tôi là Vua” (Ga.18,37), nhưng không phải là vua đi tranh ngôi với hoàng đế Xê-sa-rê hay Hê-rô-đê mà hội đồng công tọa tố cáo. Vương quốc của Ngài không có màu sắc chính trị phàm trần , xâm chiếm lãnh thổ. Ngài không xuất hiện như các ông vua khải hoàn, ngựa xe ngợp trời, tù binh cả đám. Ngài ngồi trên con lừa khiêm tốn, hiền hòa theo lời sấm ngôn Da-ca-ri-a (Mt.21,5), Ngài đến để đem bình an, công chính chứ không mang gươm giáo. Ngài là Vua nhưng không phải là vua thống trị, mà là Vua “Hiến mạng sống cho đoàn chiên” (Ga.10,11). Trên thap giá Ngài đã đánh bại Xa-tan, tử thần, đã đem lại sự công chính hóa toàn dân, và mở ra thời kỳ ân phúc cho nhân loại. Nước Chúa là nước tình thương, an hòa và phục vụ. Kẻ thù thách thức Ngài xuống khỏi thập giá để cho họ tin, nếu quả Ngài là Con Thiên Chúa, nhưng Ngài sẽ không bao giờ sử dụng quyền năng để mưu cầu tư lợi. Ngài đã từ chối đề nghị này của Xa-tan và sẽ chẳng bao giờ nghe lời thách thức của người Do-thái. Vương quốc thế gian xây trên sức mạnh của vũ khí thích dương oai, đàn áp; còn Vương quốc của Chúa dựa trên sự thật, trên lẽ phải trên tình thương. Ngài đến để phục vụ và hiến mạng sống cho thần dân của Ngài, đúng như Ngài nói : “Ta đến để chiên Ta được sống và sống dồi dào hơn”. “Khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi !”. Trái với tên trộm ngoan cố, người trộm lành đã thống hối ăn năn, anh nhìn nhận quá khứ không tốt của mình, và vui nhận hình phạt do tội của anh gây nên. Điều lạ lùng là anh đã nhìn thấy Vương quyền của Chúa Kitô giữa mọi sự và nói : “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi !”. Câu nói biểu hiện lòng tin của anh vào con người cùng bị đóng đinh : Ngài vô tội, Ngài sẽ không chấm dứt đời mình bằng cái chết, Ngài sẽ vào trong nước Ngài và sẽ đem theo những ai thành tâm tin theo Ngài. Đứng trước lòng trông cậy đó, Chúa Giêsu đã đáp lại lời cầu xin, khi Ngài nói : “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”. Chúa đã nhận anh vào Nước Hằng Sống với Ngài. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể. Mừng kính Chúa Kitô vua là dịp để giúp chúng con nhìn lại thân phận yếu đuối của mình. Chúng con đang sống trong thế giới có nhiều biến động, chiến tranh, thiên tai và dịch bệnh. Thế giới mà chúng con đang trải qua có thể nói là văn minh nhưng đầy cạm bẩy. Nhiều người đang mải mê với thế tục trần thế: chạy theo tiền tài, danh vọng. Mà ngay bản thân chúng con đã không ít lần vấp ngã. Sự phân biệt đối xử đang len lỏi vào những ngốc ngách của cuộc sống, trong phạm vi gia đình, quốc gia và trên thế giới. Xin cho chúng con có một lòng tin mãnh liệt, vào uy quyền và tình thương tha thứ của Chúa Cứu Thế trong mọi nghịch cảnh, để nhờ lòng tin đó chúng con đến với Chúa trong những lúc vui, buồn, sướng khổ. Lắng nghe Chúa trong mọi biết cố của cuộc đời. Và hơn thế nữa, chúng con cũng bắt chước Chúa : đem ánh sáng Chúa vào nơi tối tăm, đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem chân lý vào nơi lỗi lầm. Amen. Mời các bạn cùng cầu nguyện với 3 phút Thánh vịnh

Thứ Năm, 18 tháng 11, 2010

NHỮNG ĐIỀM BÁO NGÀY TẬN THẾ



TỪ NHỮNG DẤU CHỈ THỜI ĐẠI…

Những người Dothái thời Chúa Giêsu tự hào với lối kiến trúc nguy nga, đồ sộ của Đền thờ Giêrusalem – công trình được vua Hêrôđê Cả trùng tu bắt đầu từ năm 20 trước công nguyên và mãi đến thời tổng trấn Rôma Albinus khoảng năm 63 sau công nguyên mới hoàn thành. Như thế, thời Chúa Giêsu, Đền thờ vẫn chưa hoàn thành mà đã được nhiều người tấm tắc khen ngợi, đủ cho thấy vẻ hoành tráng của nó như thế nào sau khi hoàn tất.

Thế nhưng Chúa Giêsu lại loan báo cho khách hành hương biết công trình mà họ đang chiêm ngưỡng rồi đây sẽ “không còn tảng đá nào trên tảng đá nào”. Lời loan báo đó thành hiện thực vào ngày 29.8.70, khi 4 đoàn quân của Titô, con hoàng đế Vétpaxianô bao vây thánh đô và bình địa.

Dấu chỉ thời đại này phải chăng là lúc đánh dấu ngày tận cùng của thế giới, sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Người sẽ không còn nữa như những người thời Chúa Giêsu lo ngại và phải chăng đó là thời gian đánh dấu sự trở lại của Đức Kytô trong vinh quang như cộng đoàn thời thánh Luca đã đặt ra?

Chúng ta có thể thấy lập trường rõ ràng của Chúa Giêsu trong vấn đề này. Theo đó, tận thế là điều không thể tránh khỏi, nhưng việc Đền thờ bị phá huỷ, bị bình địa không hẳn là ngày tận thế như nhiều người lầm tưởng. Mặt khác, không chỉ có mỗi dấu chỉ về sự sụp đổ của Đền thờ, nhân loại sẽ phải đối mặt với những thăng trầm, biến động của lịch sử , nhiều dấu chỉ thời đại như ngôn sứ giả, chiến tranh loạn lạc, động đất, nổi loạn, ôn dịch, đói kém,… cũng như sự bách hại xảy đến. Thế nhưng dù tất cả những dấu chỉ thời đại ấy cứ lần lượt xuất hiện đúng như Chúa Giêsu loan báo, thì đó cũng chưa hẳn đã là ngày tận thế. “Những việc đó phải xảy ra trước, nhưng chưa phải là chung cục ngay đâu”. Chính Chúa Giêsu đã khẳng định rõ ràng như vậy. Vấn đề ở chỗ, chúng ta phải đối diện với những thực tại này như thế nào.

… ĐẾN NIỀM HY VỌNG CHO NHỮNG AI KIÊN TRÌ

Người Kytô chắc chắn không đi ra khỏi dòng chảy của lịch sử nhân loại, và như thế, chúng ta cũng sẽ đồng hành, sẽ đối diện với những bước thăng trầm biến động, những dấu chỉ của lịch sử, của thời đại. Nếu như người khác nhìn những dấu chỉ đó để hoảng loạn, không có điểm tựa vì sợ hãi, Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta “đừng sợ hãi”, và khi có bách hại thì cũng “đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào”.

Người Kytô chúng ta luôn vững tin vào kế hoạch huyền nhiệm của Thiên Chúa toàn năng đối với lịch sử nhân loại. Kế hoạch đó cuối cùng sẽ viên mãn, sẽ thành công nếu chúng ta kiên trì giữ vững đức tin, tiến bước trong đường lối những huấn lệnh của Thiên Chúa.

Người Kytô chúng ta đứng trước những dấu chỉ của thời đại thay vì đi kiếm tìm những sự an toàn lệch lạc nơi những bùa chú, tin đồn nhảm nhí, chúng ta hãy làm như Chúa Giêsu đã dạy, là hãy biết đọc ra những dấu chỉ kia như khi người ta nhìn vào sự đâm chồi nẩy lộc của cỏ cây, người ta biết rằng mùa hè sắp đến; Cũng thế, đứng trước sự biến động của lịch sử cũng như sự bách hại, chúng ta hãy vui mừng và hân hoan, “hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên” (Lc 21, 28) vì niềm tin, niềm hy vọng cứu rỗi của chúng ta sắp trở thành hiện thực. Nước Thiên Chúa đang đến. Đức tin kiên vững và bền đỗ của chúng ta sẽ là chìa khoá để chúng ta bước vào diện kiến Thánh Nhan Thiên Chúa.

Mỗi một dấu chỉ thời đại xảy đến trong thế giới, trong Giáo hội và trong cuộc đời mỗi con người luôn kèm theo lời nhắn nhủ của Thiên Chúa. Xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết “đọc” ra những dấu chỉ đó để có thể nhận ra đâu là thánh ý Chúa hầu mau mắn đáp lại lời mời gọi của Người cho xứng hợp.

Xin mời theo dõi bộ phim tài liệu của những người anh em Tin Lành "Những Điềm Báo Ngày Tận Thế" và "Kỳ Tận Thế" tại đây.






Thứ Tư, 17 tháng 11, 2010

Châu Nhuận Phát và phim "Thần bài"

Châu Nhuận Phát hoặc Chu Nhuận Phát là một trong những ngôi sao lớn nhất của điện ảnh Hồng Kông thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Từ giữa thập niên 1990, Chu bắt đầu chuyển hướng sang Hollywood.



Châu Nhuận Phát sinh ngày 18 tháng 5 năm 1955 tại Nam Nha Đảo , Hồng Kông trong một gia đình người Khách Gia nghèo. Khi còn nhỏ Chu thường phải dậy sớm để giúp mẹ bán đồ điểm tâm trên phố rồi buổi chiều cậu lại phải ra đồng làm việc.

Năm Châu Nhuận Phát lên 10 thì cả gia đình chuyển đến Cửu Long. Năm 17 tuổi, Châu Nhuận Phát phải bỏ học để giúp đỡ gia đình bằng nhiều nghề khác nhau như trực khách sạn, đưa thư, bán máy ảnh và tài xế taxi. Năm 1973, cuộc sống của Chu thay đổi sau khi anh đọc được một thông báo tuyển diễn viên của hãng TVB. Sau khi được hãng TVB tuyển chọn và ký hợp đồng 3 năm, Chu bắt đầu tham gia các bộ phim truyền hình của TVB và nhanh chóng trở nên nổi tiếng nhờ ngoại hình cao to (1,85m) và khả năng diễn xuất.

Năm 1980, Chu thực sự trở thành ngôi sao của màn ảnh nhỏ Hồng Kông sau khi thủ vai Hứa Văn Cường trong bộ phim truyền hình dài 25 tập Bến Thượng Hải ,đây được coi là một trong những bộ phim truyền hình thành công nhất mà TVB đã từng sản xuất. Sau Bến Thượng Hải, Châu Nhuận Phát lại tiếp tục thành công qua vai Lệnh Hồ Xung trong phiên bản truyền hình năm 1984 của tiểu thuyết võ hiệp Tiếu ngạo giang hồ.

Song song với những thành công trên truyền hình, Châu Nhuận Phát bắt đầu thử sức ở lĩnh vực điện ảnh. Bộ phim điện ảnh đầu tiên của anh là Trì nữ , một phim cấp 3 nhưng bộ phim không thành công và diễn xuất của Chu cũng ít gây được chú ý, người ta biết đến anh chủ yếu vẫn là qua những bộ phim truyền hình dài tập. Năm 1981 Châu Nhuận Phát có được thành công điện ảnh đầu tiên với vai diễn trong bộ phim Hồ Việt đích cố sự của đạo diễn Hứa An Hoa. Nhưng phải chờ đến năm 1986, vai diễn đột phá mới thực sự đến với Chu khi anh được đạo diễn Ngô Vũ Sâm chọn vào vai tham gia Lý Mã Khắc cho bộ phim Anh hùng bản sắc.

Sau khi ra mắt, Anh hùng bản sắc đã thành công vang dội cả về mặt doanh thu và nghệ thuật, bộ phim được coi là tác phẩm kinh điển của thể loại phim hành động Hồng Kông và được xếp thứ hai trong Danh sách các bộ phim hay nhất của điện ảnh Hoa ngữ 100 năm qua còn Châu Nhuận Phát lập tức trở thành ngôi sao hành động mới của điện ảnh Hồng Kông.

Sau thành công đầu tiên, Chu tiếp tục hợp tác với đạo diễn Ngô Vũ Sâm trong các bộ phim hành động thành công khác như Anh hùng bản sắc 2 ,Điệp huyết song hùng ,Lạt thủ thần tham .Nhưng không chỉ đóng đinh với các vai anh hùng hành động, Chu còn thành công với các bộ phim tình cảm như Thu thiên đích đồng thoại hay A Lang đích cố sự .

Năm 1989, Châu Nhuận Phát vào vai "thần bài" Cao Tiến trong phim Thần bài của đạo diễn Vương Tinh. Bộ phim thành công vang dội và mở ra một thể loại phim mới của điện ảnh Hồng Kông, phim về cờ bạc với nhiều bộ phim theo bước Thần bài do Lưu Đức Hoa và Chu Tinh Trì thủ vai.

Riêng Châu Nhuận Phát thì thực sự khẳng định vị trí ngôi sao lớn nhất của điện ảnh Hồng Kông giai đoạn cuối những năm 1980. Giữa thập niên 1990, sau rất nhiều thành công ở thị trường điện ảnh Hồng Kông, Châu Nhuận Phát bắt đầu tham gia các bộ phim của Hollywood với hy vọng sẽ trở thành một ngôi sao người Hoa ở tầm quốc tế như Lý Tiểu Long đã từng làm được. Sau bộ phim cuối cùng làm ở Hồng Kông, Hòa bình phạm điếm ,Chu nghỉ hẳn hai năm để hoàn thiện tiếng Anh và chuyển tới Mĩ để chuẩn bị phát triển sự nghiệp.

Hai bộ phim Mỹ đầu tiên của Chu là Replacement Killers (1998) và The Corruptor (1999) là những thất bại về doanh thu. Bộ phim tiếp theo, Anna and the King (1999) mà trong đó Chu đóng cặp với nữ diễn viên từng hai lần đoạt Giải Oscar Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Jodie Foster đánh dấu thành công đầu tiên, tuy còn hạn chế, của Chu ở Hoa Kỳ. Năm 2000 Chu tham gia bộ phim võ hiệp Ngọa hổ tàng long của đạo diễn Lý An, thành công lớn của bộ phim (giành Giải Oscar Phim ngoại ngữ hay nhất) một lần nữa đưa Chu trở lại vị trí ngôi sao lớn của điện ảnh tiếng Hoa.

Năm 2006, Châu Nhuận Phát đóng cặp cùng Củng Lợi trong bộ phim Hoàng Kim Giáp của đạo diễn Trương Nghệ Mưu và được đề cử giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông, đây là lần thứ 13 ông được đề cử giải thưởng này và đang là người giữ kỷ lục về số lần đề cử.

Năm 2007 Châu Nhuận Phát vào vai tướng cướp Khiếu Phong, một vai nhỏ trong bộ phim bom tấn Cướp biển vùng Caribê: Nơi tận cùng thế giới (Pirates of the Caribbean: At World's End). Bộ phim mới nhất của Chu là The Children of Huang Shi đã được công chiếu vào cuối năm 2007.

Mời các bạn xem phim do Châu Nhuận Phát đóng vai chính theo YouTube tại đây


Chủ Nhật, 14 tháng 11, 2010

Nghe đọc sách hay : Đừng Bao Giờ Đi Ăn Một Mình - Never Eat Alone

Thể loại: Quản Trị Bán Hàng
Tên sách: Đừng Bao Giờ Đi Ăn Một Mình - Never Eat Alone
Tên tác giả: Keith Ferrazzi & Tahl Raz
Tên dịch giả: Trần Thị Ngân Tuyến
Năm xuất bản: 2010
Nhà xuất bản: Trẻ
Tên người đọc: Lê Minh Thương



Giới thiệu về nội dung 

Bạn mong muốn đi tắt đón đầu? Bạn muốn vững bước đến thành công? Công thức để làm được điều này, theo lời bậc thầy về kết nối là Keith Ferrazzi, chính là phải biết làm quen với mọi người. Ferrazzi đã khám phá từ khi còn trẻ rằng điểm khác biệt của những người thành công rực rỡ chính là cách họ vận dụng quyền năng của những mối quan hệ - để mọi người cùng thắng.

Trong quyển sách "Đừng bao giờ đi ăn một mình", Ferrazzi chỉ ra từng bước cách thức – và lý do – mà chính ông đã áp dụng để kết nối với hàng ngàn người là đồng nghiệp, bạn bè có tên trong số danh bạ, những người ông đã giúp đỡ và ngược lại cũng sẵn sàng giúp đỡ ông. Ferrazzi sinh ra trong một gia đình có cha là công nhân nhà máy thép tỉnh lẻ và mẹ là lao công. Tuy vậy ông đã biết tận dụng khả năng kết nối xuất sắc của mình để dọn đường vào đến Yale, nhận bằng MBA tại Harvard, và giữ những chức vụ lãnh đạo quan trọng.

Mặc dù chưa quá 40, Ferrazzi đã tạo được một mạng lưới trải dài từ hành lang ở Washington đến các tên tuổi lớn tại Hollywood. Ông đã được tạp chí Crain bình chọn là một trong số 40 người lãnh đạo kinh doanh dưới 40 tuổi đồng thời là Nhà lãnh đạo tương lai của thế giới tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos.

Phương pháp kết nối của Ferrazzi dựa trên nền tảng là sự rộng lượng, giúp đỡ bạn mình kết nối với những người bạn khác. Ferrazzi phân biệt rõ ràng giữa xây dựng mối quan hệ nghiêm túc với cách “tạo mạng lưới” vô tội vạ. Ông hệ thống hoá phương pháp của mình thành những nguyên tắc thực tiễn và đã được kiểm chứng như: Đừng ghi sổ: Kết nối không phải là cố gắng đạt được những gì mình muốn. Bạn phải đảm bảo những người quan trọng đối với bạn cũng đạt được điều họ muốn. Liên tục “pinging”: Nên nhớ phải liên tục liên hệ với những nối kết trong mạng lưới của bạn, không chỉ đợi đến khi bạn cần họ.

Mục lục: 

Phần 1: Xác định quan điểm 
Ghi danh thành viên câu lạc bộ Đừng ghi sổ Sứ mệnh của bạn là gì? Tiểu sử người nổi tiếng: Bill Clinton Hãy xây dựng sẵn trước khi cần đến Cảm hứng táo bạo Tạo mối quan hệ một cách tích cực Tiểu sử người nổi tiếng: Katharine Graham

Phần 2: Các kỹ năng 
Soạn bài tập ở nhà Ghi nhớ tên Hâm nóng những cuộc gọi lạnh Vượt qua người giữ cửa Đừng bao giờ đi ăn một mình Chia sẻ đam mê Theo dõi hay thất bại Biến mình thành viên tướng hội thảo Kết nối với người nối kết Tiểu sử người nổi tiếng về kết nối: Paul Revere Mở rộng mạng lưới Nghệ thuật nói chuyện xã giao Tiểu sử người nổi tiếng: Dale Carnegie

Phần 3: Biến nối kết thành bạn đồng hành 
Sức khỏe, của cải và con cái Môi giới xã hội Tiểu sử người nổi tiếng: Vernon Jordan Pinging - mọi lúc mọi nơi Tìm cột neo và làm họ hài lòng

Phần 4: Trao đổi – Cho và nhận 
Thể hiện bản thân đáng làm quen Tiểu sử người nổi tiếng: Dalai Lama Xây dựng thương hiệu cá nhân Quảng cáo thương hiệu Công việc viết lách Tiếp cận quyền lực Xây dựng hôm nay, gặt hái ngày mai Tiểu sử người nổi tiếng: Benjamin Franklin Đừng bao giờ kiêu căng Tìm người đỡ đầu, tìm người để đở đầu, lại quay về tìm người đỡ đầu Tiểu sử người nổi tiếng: Eleanor Roosevelt Cân bằng là một khái niệm nhảm nhí Thời đại nối kết.

Mời bạn nghe đọc quyển sách "Đừng Bao Giờ Đi Ăn Một Mình" theo YouTube tại đây