Chào mừng bạn đến với Gia Đình Duy Duy - Chúc bạn vui vẻ và hạnh phúc !

Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2011

Xem phim hoạt hình : MINH NGUYỆT ĐỜI TẦN (P01-10 tập , P02-18 tập , P03-34 tập)



Sản xuất : Trung Quốc
Kịch bản : Thẩm Lạc Bình
Thể loại : Phim hoạt hình
Xuất bản : 2007

Năm 221 trước Công Nguyên , Tần diệt Lục quốc . Trong đống đổ nát của thời đại cũ , Tần Thủy Hoàng đã bắt đầu xây dựng một ước mơ hùng vĩ . Bất luận trên mặt đất hay dưới lòng đất , ông ta đều muốn trở thành bá chủ chinh phục mọi thứ , ông ta phải diệt trừ mọi nước gây bất lợi cho mình .

Cái Nhiếp là vua của kiếm và binh khí – có biệt hiệu là “Kiếm thánh” trong giang hồ . Đó không phải là hư danh – trưởng môn Quỷ cốc phái các đời chỉ nhận được hai đồ đệ – hai đệ tử này vừa bắt đấu đã là đối thủ của nhau – một người là tung một người là hoành .

Thế bất lưỡng lập , trong hai người họ chỉ có một người được sống . Lúc này, có một đứa bé xuất hiện tên là Thiên Minh một tháng trước Cái Nhiếp đã tìm được cậu ta .

Trên người đứa bé này đã bị người ta dùng bùa âm dương , còn gọi là thuật thôi miên sẽ làm cho người ta rơi vào trạng thái mê man làm ra những chuyện không thể nào tưởng tượng được .

Còn cô bé Nguyệt nhi – thật ra là con gái của thái tử Yến quốc phương Bắc . Thiên Minh và Nguyệt Nhi đã gặp nhau và cùng nhau chống lại Tần Vương .

Mời các bạn cùng theo dõi bộ phim, phần 1(10 tập), phần 2(18 tập), phần 3(34 tập)



Thứ Bảy, 29 tháng 1, 2011

Phúc âm Chúa Nhật 4 TN (30/01/2011)

Nguồn : www.40giayloichua.net Mời nghe chương trình tĩnh tâm và bài giảng với chủ đề " "TÁM MỐI PHÚC THẬT" của Linh Mục Micae Giuse Nguyễn Trường Luân, CSsR NƯỚC TRỜI DÀNH CHO NHỮNG NGƯỜI BÉ MỌN Lm.Carôlô Hồ Bạc Xái 1. Những lời chúc mừng Tám lời "phúc thay" trong đoạn Tin Mừng này không phải là những lời hứa (Đức Giêsu hứa rằng những ai nghèo khổ, đói khát, hiền lành… sẽ được hạnh phúc). Tám lời này cũng không phải là những chỉ dẫn để được hạnh phúc (nếu muốn hạnh phúc thì phải có tâm hồn nghèo, phải hiền lành v.v.), mà trước hết đó là những lời chúc mừng : Đức Giêsu nói với những người nghèo, đói, bị ức hiếp v.v. rằng họ đừng buồn rầu nữa, đừng thất vọng nữa. Trái lại họ hãy ý thức rằng họ đang rất hạnh phúc, bởi vì cho dù người đời bỏ rơi họ, nhưng họ được một Đấng rất quyền phép luôn yêu thương họ, đó chính là Thiên Chúa ; cho dù họ thiếu thốn nhiều điều mà người đời tìm kiếm, nhưng họ có được một kho tàng không gì quý bằng, đó là Nước Trời. Họ hãy vui mừng vì Đức Giêsu đến trần gian để lập một nước hạnh phúc, mà nước đó Ngài ưu tiên dành cho họ. 2. Một chương trình hành động Bài giảng trên núi mở đầu bằng những lời chúc phúc. Nghĩa là sứ điệp của Đức Giêsu chủ yếu là loan báo hạnh phúc. Nhưng loan báo cho ai, và như thế nào ? Phải đau đớn nhận rằng các lời chúc phúc ấy đã bị hiểu sai và bị lợi dụng làm một thứ thuốc phiện nhằm ru ngủ nỗi khổ đau và sự nổi loạn của những người nghèo. Người ta muốn hiểu chúng như sau : "Hỡi những người nghèo, các người hạnh phúc lắm vì các người được Thiên Chúa yêu thương... vậy cứ tiếp tục nghèo đi ! Hãy chấp nhận thân phận của các người, rồi một nào đó ở trên trời các người sẽ được hạnh phúc". Nhưng thực ra Đức Giêsu nói ngược hẳn lại : "Hỡi những người nghèo, chúng con hạnh phúc, vì từ nay chúng con không còn nghèo nữa, vì triều đại của Thiên Chúa đã đến". Một vấn nạn : nếu thực sự ý nghĩa lời chúc phúc của Đức Giêsu như thế thì... Ngài đã lầm, vì vẫn luôn còn những người nghèo, và bất công vẫn còn đấy ! Nhưng đặt câu hỏi như vậy thì hỡi ôi, những người Kitô hữu chúng ta đã không làm tròn bổn phận của mình. Chúng ta chỉ chờ một mình Đấng Messia thành lập triều đại Thiên Chúa. Đúng ra Đức Giêsu là người khánh thành nước Thiên Chúa và giao trách nhiệm cho chúng ta là các môn đệ của Ngài phải hoàn thành. Những Kitô hữu đầu tiên đã hiểu rõ điều ấy : họ để tài sản của họ thành của chung và không có người nghèo giữa họ (Cv 4,34). Không thể chỉ công bố suông những lời chúc phúc mà chẳng làm gì cả theo khả năng mình để cho sự nghèo khổ dưới mọi hình thức bị biến mất. Công việc của Đức Giêsu là khánh thành Nước Thiên Chúa. Nếu thế thì các lời chúc phúc (và những giáo huấn triển khai các mối phúc ấy) đối với các Kitô hữu là một chương trình hành động trong sinh hoạt cụ thể của họ về chính trị, kinh tế, gia đình... Chúng nhắc chúng ta nhớ rằng động cơ hành động của chúng ta chỉ là phục vụ tha nhân và trước tiên là những người nghèo, chứ không bao giờ được là tiền bạc hoặc quyền lực. Chúng còn ban một ý nghĩa sâu sắc cho những việc người Kitô hữu làm : một y sĩ chiến đấu với bệnh tật, một công nhân đem sản phẩm của mình làm cho đời sung túc hơn, một giáo viên cố gắng giúp giới trẻ nên người... tất cả những người ấy đều có quyền nghĩ rằng mình đang thực hiện Nước Chúa. (Etienne Charpentier) 3. Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó Phật Thích Ca mở đầu bài thuyết pháp đầu tiên tại Bênarét bằng câu : "Vạn sự sự vô thường, vạn sự khổ", nghĩa là mọi sự đổi thay không ngừng nên mọi sự chỉ là khổ. Sinh, lão, bệnh, tử : con người sinh ra, để rồi già yếu bệnh tật, và cuối cùng phải chết. Rõ thật cuộc đời chỉ là bể khổ. Năm trăm năm sau, Đức Kitô xuất hiện bên đất Pa-lét-tin, dõng dạc tuyên bố trong bài giảng đầu tiên : "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ !" (Mt 5,3) Một người mang tiếng là bi quan yếm thế, người kia lại bị coi như không tưởng, lạc quan quá cỡ. Một bên coi đời là bể khổ, còn một bên lại nhìn thấy màu hồng trong cái thanh bạch trống trơn. Người ta đã tốn khá nhiều giấy mực và thời giờ sức lực để nghiên cứu, suy tư, bàn cãi về hai bài giảng đầu tiên của Đức Phật và của Đức Giêsu. Đã có những luận án trình bày và so sánh hai bài giảng đó. Tuy nhiên có lẽ chẳng mấy ai hiểu được chính xác nội dung ý nghĩa của hai bài giảng có tính cách ngôn sứ ấy. Vì thực ra, cả Đức Phật lẫn Đức Giêsu đều không có chủ ý đề ra một lý thuyết về vấn đề hạnh phúc và đau khổ, mà chỉ chia sẻ cho anh em nhân loại của các Ngài chính kinh nghiệm sống của mình. Kinh nghiệm của Đức Phật là kinh nghiệm của một người đã đạt tới Chân Như, vượt ra ngoài thế giới vô thường của những đam mê mù quáng, của sự phân chia đối kháng ; còn kinh nghiệm của Đức Kitô là kinh nghiệm của một người thấy được sự tồn tại trong cái mất (x. Mt 10,39) và sự sống trong cái chết (x. Ga 12,24-25) Đức Phật chỉ nói lên cái lý do, cái nguyên nhân làm cho người ta khổ, nhưng Người không bao giờ lên án cuộc đời, cho nó chỉ là bể khổ. Đức Kitô cũng không bảo rằng muốn hạnh phúc thì phải là kẻ khố rách áo ôm. Do đó Mát-thêu đã có lý khi thêm ba chữ "có tâm hồn" vào trong câu nói của Chúa, để xác định cho rõ cái nghèo nàn nào mới thực sự đem lại hạnh phúc cho con người. Trong cuộc đời, xưa cũng như ngày nay, vào thời con người còn ăn lông ở lỗ, cũng như trong thời ở khách sạn 5 sao, vẫn luôn luôn diễn ra những cảnh trái khuấy : nhiều người có đủ mọi điều kiện để hạnh phúc, mà thực tế lại đau khổ khôn lường, còn những kẻ xem ra bần cùng tối tăm, lại tràn trề hạnh phúc. Thật ra ai cũng biết rằng nghèo khó không đương nhiên là khổ, đã đành rằng nghèo và khổ thường đi đôi với nhau. Trái lại giàu có cũng không tất nhiên đem lại hạnh phúc cho con người. Vấn đề hạnh phúc chủ yếu ở cái TÂM. Bởi thế các bậc thánh hiền, bằng những ngôn ngữ khác nhau, nhưng hầu như đều luôn luôn nhất trí trong việc đề cao đời sống tâm linh. Chính đó là lý do tại sao Đức Giêsu đề cao tâm hồn nghèo khó, hiền hậu, dám chấp nhận khổ đau, yêu thích sự chính trực, thương xót đồng loại, trong sạch, và biết xây dựng hòa bình. Thực ra tất cả những đức tính trên đây là những đức tính của "người nghèo của Thiên Chúa", của một anawim theo truyền thống Kinh Thánh. Người nghèo của Thiên Chúa không phải là người có đời sống vật chất khó khăn túng quẫn, mà là kẻ trước hết hoàn toàn tin tưởng phó thác cậy trông nơi Chúa, biết sống cho Người và cho anh em đồng loại của mình, lấy Chúa làm gia nghiệp, và luôn luôn sống trong tình lien đới với anh em đồng loại, thực thi điều răn trọng nhất là mến Chúa yêu người. Nói theo Đông phương chúng ta, thì hạnh phúc chủ yếu ở chỗ thực hiện được sự hòa điệu giữa lòng mình với lòng Trời, giữa lòng mình với lòng người, nghĩa là sống sao cho hợp lòng Trời và lấy lòng của trăm họ làm lòng mình, "dĩ bách tánh tâm vi tâm" (ĐĐK XLIX, 1) Theo truyền thống Ấn độ nói chung và Phật giáo nói riêng, hạnh phúc là sukha, đó là tình trạng giống như tình trạng của một bánh xe mà trong đó mọi sự ăn khớp với nhau : vành xe, ổ trục và các đũa xe đều tốt và nằm đúng vị trí, hòa hợp với các thành phần khác, do đó mà bánh xe chạy trơn tru. Còn đau khổ là dukha, đó là tình trạng một bánh xe trục trặc, vì có những thành phần hư hỏng hay không ăn khớp với những thành phần khác. Nói tóm lại, không ai sướng khổ một mình hay chỉ tại mình, mà tất cả chúng ta liên đới và chịu trách nhiệm về hạnh phúc cũng như đau khổ của nhau. Vì thế mà trong Tám mối phúc thật, Đức Giêsu cho thấy hạnh phúc của chúng ta tuỳ thuộc vào mối tương quan ba chiều giữa chúng ta với Thiên Chúa, và giữa chúng ta với anh em đồng loại. (Lm Thiện Cẩm, OP, Công giáo và Dân tộc, số đặc biệt Giáng sinh 1995) 4. Chuyện minh họa a/ Bài học của chó Ngày nọ, W. Scott ném hòn đá vào một con chó lạc để đuổi nó đi. Nhưng ông hơi mạnh tay, nên con chó bị gãy chân. Thay vì chạy đi, con chó khập khiễng chạy lại bên ông và liếm lên bàn tay vừa ném nó. W. Scott bảo rằng ông không bao giờ quên chuyện đó, vì nó nhắc ông nhớ đến Bài giảng Trên núi. b/ Người hạnh phúc nhất Nhà vua bị bệnh nặng. Quan ngự y lo lắng, nhưng đành bó tay. Một nhà chiêm tinh đến bảo vua chỉ khỏi bệnh khi nào được mặc chiếc áo của một người hạnh phúc nhất. Quan quân đổ xô đi khắp nước để tìm người hạnh phúc nhất. Cuối cùng thì họ cũng tìm được một người hạnh phúc thực sự. Nhưng khổ thay, người ấy quá nghèo, chẳng có lấy một chiếc áo ! Lạy Chúa Giêsu, ai ai cũng đều mong muốn được hạnh phúc lâu dài. Nhưng trong thực tế, hạnh phúc mà chúng con đang có rất mong manh. Vậy, xin Chúa cho chúng con hiểu rằng hạnh phúc chỉ thực sự bền vững khi chúng con sống theo Lời Chúa dạy, đặc biệt Lời Chúa trong Bài giảng trên núi. PHÚC THẬT-PHÚC GIẢ Lm. Bùi Quang Tuấn, C.Ss.R. “Bài Giảng Trên Núi” hay “Hiến Chương Nước Trời” là bản tổng hợp xúc tích nhất của Tin mừng Đức Kitô. Và “Tám Mối Phúc Thật” chính là nền tảng căn bản nhất của “Bài Giảng Trên Núi” đó. Thế nhưng không tránh khỏi một câu hỏi đầy tính hiện sinh: làm sao nghèo hèn, hiền từ, ưu phiền, đói khát, bị bắt bớ… mà lại là có phúc khốn khó, như Marx có lần tuyên bố: “Kitô giáo biện chứng cho sự nghèo đói của nhân loại và làm lụn bại tinh thần đấu tranh vượt thoát áp bức”. Phải chăng là như thế? Dựa vào đâu để khẳng định nghèo khó, ưu phiền, đau khổ là có phúc, đang khi thực tế lại như những “vô phúc” đáng loại trừ? Một nhà tư tưởng đã có lý khi nhận định: ấy là dựa vào con người Đức Giêsu, vì Ngài chính là hiện thân của khó nghèo, hiền lành, lắng lo, khát khao, thương xót, tinh tuyền, hoà bình, và khốn khổ vì công chính. Không phải bởi lâm vào tình cảnh bế tắc nên Ngài phải chịu vậy, song đây là sự tự nguyện chọn lựa để làm nên mẫu gương ân phúc cho con người. Ví dụ, có lần ma quỉ đến nói với Đức Giêsu: “Nếu ông cúi mình bái lạy tôi thì tất cả vinh quang giàu sang của thế gian sẽ thuộc về ông”. Như vậy Chúa Giêsu có khả năng để nên giàu có, và giàu có lắm, vì được cả thế gian chứ không phải thường. Nhưng Ngài từ chối bái lạy “cha của bọn dối trá”. Hay sau khi hoá bánh cho dân chúng ăn no, Chúa Giêsu được người ta tôn vinh làm vua. Khi làm vua, chắc sẽ sung sướng và cao sang hơn người. Ấy thế mà Kinh thánh lại nói: “Ngài trốn lên núi”. Tại sao trốn? Phải chăng Đức Giêsu muốn khẳng định một điều: giá trị cao quí và cần thiết vô cùng không ở nơi của cải, cao sang, sức mạnh, chức quyền nhưng là nơi Thiên Chúa. Ai chọn lựa Thiên Chúa, ai đặt trọn niềm tin tưởng nơi Ngài chính là người có phúc nhất. Thánh vịnh đã xác nhận điều đó khi nói: “Phúc thay người đặt niềm tin tưởng nơi Chúa”. Vì sao? Vì khi đặt niềm tin tưởng như thế: “Họ như cây trồng bên suối nước, Trổ sinh hoa trái đúng mùa Lá cây không bao giờ tàn uá Tất cả công việc họ làm đều thịnh đạt”. Thịnh đạt trong mọi công việc chính là phần phúc dành cho những ai chọn Thiên Chúa làm lẽ sống và con đường ngay thẳng của Tin mừng để bước đi, dù rằng nẻo đường đó không thiếu chật hẹp, gian nan, đau khổ và rướm máu. Thế nhưng có bước theo Chúa và gắng nên giống Ngài mới là phúc thật, còn ngược lại, thì dù được xem như thành công, giàu có, hạnh phúc, an lành, người ta vẫn là những kẻ vô phúc trong thiên hạ. Mới đây, làng điện ảnh Hollywood thường đề cập đến nữ minh tinh Demi Moore, người rất được khán giả Hoa kỳ ái mộ, và cũng từng là vợ của Bruce Willis, một tài tử danh tiếng khác. Nổi tiếng và giàu có, nhưng Demi lại đang sống trong tình trạng mặc cảm, lo sợ, hối hận dày vò. Số là trước khi bước chân vào nghề điện ảnh, Demi đã làm một nghề tồi bại: cho chụp hình playboy thân xác của mình. Mặc dầu đã tốn khá nhiều tiền mua lại các phim gốc, hầu xoá bỏ dấu tích của một thời thiếu đoan trang, Demi vẫn mang trong mình nỗi bất an lo sợ. Vì hiện nay đang có dấu hiệu xuất hiện các hình ảnh xấu xa của cô trên internet. Demi lo cho danh dự của mình một phần, nhưng nguy hiểm hơn, cô đang sợ một ngày kia, ba đứa con gái bé bỏng của cô là Rumer, Scout, và Tallulah sẽ nhìn thấy các hình ảnh “không nết na” của mẹ chúng trên internet, hoặc bị bạn bè bắt gặp và đem ra trêu chọc. Demi không muốn chứng kiến cảnh các con ngây thơ vô tội phải xấu hổ đau khổ vì mình. Cô tâm sự: “Giấc mơ lớn lao nhất của tôi là tìm mọi cách thu hồi những tấm ảnh playboy đó và ném vào một đống lửa cho cháy tiêu tan”. Demi cũng cho hay cô không kiêu hãnh chút nào khi có người khen cô đẹp vẹn toàn, bởi vì cô đã phạm một lỗi lầm rất lớn là để cho người ta chụp hình khoả thân hầu sớm nổi danh và giàu có. Thế đó, cứ tưởng vừa giàu có sang trọng, vừa xinh đẹp và được mến mộ thì hạnh phúc lắm. Nhưng sung sướng gì khi thâm tâm cứ bị dày xéo cắn rứt không nguôi. Thử hỏi sống như thế là có phúc hay vô phúc? Thành ra có nhiều điều người ta tưởng “sướng lắm” hay “phúc lắm”, nhưng khi đạt được rồi mới thấy bứt rứt, hụt hẫng, dày vò, dơ nhớp… bởi vì nỗi đam mê háo hức không công chính và thẳng ngay. Như vậy, con người chỉ có phúc thật khi khao khát Thiên Chúa và sự công chính của Ngài. Con người chỉ có bình an và thoả lòng thật khi bước đi trên nẻo đường thập giá của Phúc âm. Và con người chỉ có thể hân hoan đích thực khi can đảm chiến đấu và chiến thắng bao dục vọng đam mê thế trần. Một ngụ ngôn kia nói rằng khi thấy Chúa Giêsu đưa ra Tám Mối Phúc Thật và thấy nhiều người vào thiên đàng quá, nên Satan mới bày mưu tính kế, và cuối cùng cũng đem ra 8 “phúc” của nó để chiêu dụ. “Phúc” của Satan như sau: Thứ nhất, “phúc” cho ai chỉ biết đam mê làm giàu, bất chấp công bình bác ái, vì nước của ta đang chờ đợi nó. Thứ hai, “phúc” cho ai hận thù chia rẽ, biết bày điều đặt chuyện sỉ nhục người khác, vì chúng đang làm hiển danh ta. Thứ ba, “phúc” cho những ai không có giờ cầu nguyện hy sinh vì chúng là miếng mồi ngon của hoả ngục. Thứ bốn, “phúc” cho ai chán ngán việc lành, tránh né nhân đức, ngại ngùng nhận các bí tích, vì chưng thất vọng là phần riêng của chúng vậy. Thứ năm, “phúc” cho ai không biết rung cảm hay cứu giúp người hoạn nạn khổ đau vì chúng sẽ được gọi là môn đệ của ta. Thứ sáu, “phúc” cho ai ăn chơi phóng túng, bê tha trác táng, ngoại tình ly dị, vì chúng sắp được nhìn thấy hiện mạo của ta. Thứ bảy, “phúc” cho ai hay gây gỗ bất hoà, ghen ghét tha nhân, vì chúng sẽ được gọi là con của ta. Thứ tám, “phúc” cho ai tham gia vào việc huỷ hoại các bào thai vì hoả ngục là phần gia nghiệp của nó. Để có được phúc giả của Satan bao giờ cũng dễ dàng hơn phúc thật của Chúa Giêsu. Đường lên thiên đàng khi nào cũng nhỏ hẹp và vất vả hơn đường xuống hoả ngục đầy bóng mát thênh thang. Nhưng can đảm chọn lựa bước theo Giêsu là đón nhận cho mình chính nguồn hạnh phúc chân thật và sự sống phong phú dồi dào. Mời các bạn cùng cầu nguyện với 3 phút Thánh vịnh

Thứ Sáu, 28 tháng 1, 2011

Nghe đọc truyện audio: Đồi Gió Hú - Emily Brontë

Đồi gió hú (tiếng Anh:Wuthering Heights, đôi khi được dịch là Đỉnh gió hú) là tiểu thuyết duy nhất của nữ nhà văn Emily Brontë. Nó được nhà văn xuất bản lần đầu năm 1847 dưới bút danh Ellis Bell, lần xuất bản thứ hai của tác phẩm là sau khi Emily đã qua đời và lần xuất bản này được biên tập bởi chính chị gái của nhà văn là Charlotte Brontë. Tên của tiểu thuyết bắt nguồn từ một trang viên nằm trên vùng đồng cỏ hoang dã ở Yorkshire nơi những sự kiện có trong tiểu thuyết diễn ra, wuthering là một từ Yorkshire được dùng để chỉ thời tiết thất thường (turbulent weather).



Tiểu thuyết kể về câu chuyện tình yêu không thành giữa Heathcliff và Catherine Earnshaw, cũng như làm thế nào mà sự đam mê không thể hóa giải đó đã tiêu diệt chính họ và cả những người thân khác xung quanh.

Ngày nay, tác phẩm này được coi là một tiểu thuyết kinh điển của Văn học Anh với một cấu trúc rất sáng tạo, đó là cấu trúc truyện như một chuỗi búp bê Matryoshka, cũng vì sự sáng tạo này mà ý kiến của giới phê bình trong lần xuất bản đầu tiên của Đồi gió hú là rất khác nhau. Thời gian đầu, nhiều người đánh giá tác phẩm Jane Eyre của người chị Charlotte Brontë là sáng tác tốt nhất của Chị em nhà Brontë, tuy vậy sau này nhiều ý kiến phê bình đã cho rằng chính Đồi gió hú mới là tác phẩm xuất sắc hơn cả. Đồi gió hú cũng đã được chuyển thể thành rất nhiều thể loại khác như phim truyện, phim truyền hình, nhạc kịch và cả trong các bài hát.

Các sự kiện trong Đồi gió hú diễn ra qua lời kể của hai nhân vật, ông Lockwood và bà quản gia Nelly Dean, ngoài ra còn một số đoạn hồi tưởng của các nhân vật khác. Tiểu thuyết bắt đầu bằng năm 1801, khi ông Lockwood tới sống tại trang trại Thrushcross, một căn nhà lớn vùng đồng cỏ hoang vắng xứ Yorkshire mà ông thuê từ người chủ đất Heathcliff, một người vốn sống trong một tòa nhà có tên Đồi gió hú. Lockwood qua đêm tại nhà của Heathcliff và trải qua một giấc mộng kinh hoàng khi hồn ma của Catherine Earnshaw cầu xin ông cho giúp nó vào nhà. Khi quay trở về Thrushcross, Lockwood đã đề nghị bà quản gia Nelly Dean kể lại câu chuyện của Heathcliff và Đồi gió hú.

Nelly bắt đầu câu chuyện bằng việc quay lại 30 năm trước đó, khi Heathcliff, một đứa trẻ bị bỏ rơi sống vất vưởng trên đường phố Liverpool được chủ nhân của Đồi gió hú, ông Earnshaw, nhặt về nuôi nấng và nhận làm con nuôi. Bản thân ông Earnshaw có hai người con ruột, trong đó người con gái út Catherine nhanh chóng trở thành bạn thân thiết của Heathcliff, còn người anh cả Hindley lại tỏ rõ thái độ thù địch với người mới đến, coi cậu là kẻ phá đám và xâm phạm quyền lợi của mình. Heathcliff đến Đồi gió hú được ba năm thì ông Earnshaw qua đời, Hindley (lúc này đã cưới một người phụ nữ tên là Frances) nghiễm nhiên trở thành ông chủ của tòa nhà, ông ta không bỏ lỡ cơ hội này để đối xử tàn bạo với Heathcliff, coi anh chỉ như một kẻ làm công trong nhà.

Trong khi đó, Catherine lại bắt quen với gia đình nhà Lintons ở trang trại Thrushcross gần đó, chính họ đã bước đầu làm dịu đi tính cách hoang dại vốn có của cô gái. Catherine đặc biệt thân thiết với con trai cả có vẻ có học thức và hòa nhã của nhà Linton là Edgar Linton, người mà Heathcliff ngay lần gặp đầu tiên đã tỏ thái độ ác cảm.

Một năm sau đó, vợ của Hindley qua đời sau khi sinh hạ đứa con trai Hareton, khủng hoảng trước cái chết của Frances, Hindley bắt đầu nghiện rượu và bài bạc. Khoảng hai năm sau, Catherine đồng ý lời cầu hôn của Edgar và cô giúp việc Nelly biết rằng tin này sẽ là đòn trí mạng đối với Heathcliff, nhất là sau khi tình cờ nghe được lời giải thích của Catherine với Nelly rằng cô sẽ "mất danh giá" nếu cưới Heathcliff. Ngay khi nghe được điều này, Heathcliff bỏ đi mà không kịp nghe những tâm sự tiếp theo của Catherine về tình cảm tuyệt đối của cô dành cho anh.

Sau khi làm đám cưới với Edgar, Catherine ban đầu sống rất hạnh phúc cho đến khi Heathcliff quay trở lại với mục tiêu duy nhất là tiêu diệt tất cả những ai đã ngăn cản mình đến với người yêu. Lúc này Heathcliff đã trở thành người giàu có và còn tiếp tục âm mưu lừa ông Hindley để trở thành người chủ của Đồi gió hú. Trong âm mưu trả thù Edgar, Heathcliff đã quyến rũ em gái của Edgar là Isabella. Không lâu sau khi Heathcliff trở về, Catherine ốm nặng và qua đời chỉ vài giờ sau khi sinh con gái đầu lòng cho Edgar, cô bé cũng được đặt tên là Catherine, hay Cathy. Cái chết của Catherine làm Heathcliff càng trở nên độc ác và nung nấu âm mưu trả thù. Ông ta cưới Isabella và hành hạ cô sau khi cưới đến mức cô phải bỏ trốn và sau đó cho ra đời Linton, đứa con trai thực sự của Heathcliff. Trong khoảng thời gian này, Hindley chết, Heathcliff trở thành chủ nhân mới của Đồi gió hú, ông ta nuôi dạy con trai của Hindley là Hareton với tất cả lòng căm thù đã chất chứa trong những năm sống ở nhà Earnshaw.

Không lâu sau khi Linton ra đời, Isabella chết vì bệnh tật. Mặc dù nguyện vọng của cô là gửi con cho người anh Edgar nuôi dưỡng nhưng Heathcliff đã giành lấy đứa trẻ ốm yếu để tự tay nuôi dưỡng nó trên Đồi gió hú. Khinh rẻ chính con đẻ của mình, Heathcliff chỉ coi Linton như phương tiện để ông ta trả thù Edgar và cướp đoạt gia sản của kẻ thù bằng cách ép buộc cô gái trẻ Cathy phải làm đám cưới với Linton. Chẳng bao lâu sau khi cưới Cathy, Linton qua đời và để lại vợ như một người tù giam lỏng trong Đồi gió hú. Sau đó Edgar cũng qua đời và Heathcliff chiếm được cả quyền sở hữu của trang trại Thrushcross.

Tiểu thuyết quay trở lại lời kể của ông Lockwood. Như quan hệ của mẹ mình với Heathcliff trước kia, Cathy dần dần trở nên thân thiết với Hareton cục mịch vô học do sự dạy dỗ của Heathcliff. Chẳng bao lâu sau ông chủ của Đồi gió hú qua đời, Heathcliff được chôn cạnh Catherine còn Cathy và Hareton làm đám cưới, tiểu thuyết khép lại với chuyến viếng thăm ba ngôi mộ của Catherine, Heathcliff và Edgar nằm cạnh nhau.

Mời các bạn xem truyện tại đây, nghe đọc truyện theo YouTube tại đây .



Mời các bạn nghe theo các file mp3

Thứ Năm, 27 tháng 1, 2011

Xem phim hoạt hình : "Quà Tặng Cuộc Sống"

"Quà tặng cuộc sống" - một chương trình nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, mang một ý nghĩa hết sức thiết thực mà VTV dành tặng khán giả. . 



Mỗi tối, khán giả lại có mấy phút để thưởng thức món quà tặng ý nghĩa của Đài THVN mang đến cho họ trong chương trình Quà tặng cuộc sống. Chương trình là một khoảng lặng cần thiết để mỗi người tự nhìn lại bản thân mình sau những nhọc nhằn lo toan cuộc sống, sau những vất vả mưu sinh, sau những giây phút căng thẳng hay những toan tính của đời thường...

 Nếu như chỉ lướt qua nhanh, chắc hẳn nhiều khán giả sẽ tưởng chương trình là dành cho lứa tuổi nhỏ, là những câu chuyện hoạt hình được thêu dệt... Nhưng nếu nán lại xem kỹ và suy ngẫm thì Quà tặng cuộc sống thực sự là một chương trình truyền hình hay và ý nghĩa, thú vị và hữu ích với tất cả các đối tượng khán giả.

Chương trình Quà tặng cuộc sống hướng tới người xem những điều nhẹ nhàng, giản dị, không đao to búa lớn, không triết lí khô khan, không phải là những bài học giáo điều khô cứng mà nó là những câu chuyện ngắn gọn với những ý nghĩa rất gần gũi với tất cả mọi người. Ngay từ cái tên Quà tặng cuộc sống - khán giả có thể cảm nhận được ý nghĩa và thông điệp mà chương trình muốn đề cập tới.

Món quà từ từ được mở ra, bên trong hộp quà là những câu chuyện rất đời thường, rất giản dị, những tình huống thường xuyên diễn ra trong cuộc sống của mỗi người, những điều tưởng như rất đỗi bình thường trong cuộc sống: kỷ niệm về một người bạn thời thơ ấu, một món quà của mẹ tặng ngày còn rất nhỏ, một bó hoa chồng tặng vào một ngày đẹp trời...

Tất cả những câu chuyện trong chương trình Quà tặng cuộc sống đều rất đơn giản nhưng ẩn chứa một thông điệp đầy tính nhân văn về mối quan hệ giữa con người với con người, những triết lý cuộc sống cao cả và quan hệ tình cảm giữa con người với con người...

Cuộc sống ngày càng ồn ào và cuốn theo mọi người vào những vòng quay náo nhịêt của đời thường, của những bon chen, của những mưu sinh nhiều khi khiến chúng ta quên đi những điều đơn giản làm nên những thi vị của cuộc sống, bỏ quên những giá trị đẹp đẽ của cuộc đời. Và Quà tặng cuộc sống chính là giúp mỗi người trong chúng ta sau khi xem tìm lại được những điều tưởng chừng đã bỏ quên, tưởng chừng đã mất, tưởng chừng không bao giờ tìm thấy ở giữa đời thường, những điều tưởng chừng rất đơn giản mà thiêng liêng, cao cả.

Nhờ chương trình, nhiều người nhận ra ý nghĩa cuộc sống, ý nghĩa của hạnh phúc từ những điều rất giản dị, những việc rất nhỏ nhặt thường ngày và dần tìm cho mình những khoảng lặng êm đềm sau mỗi lo toan của cuộc sống. Chương trình đã chiếm được cảm tình của đông đảo khán giả bởi thông điệp nhẹ nhàng về tình yêu cuộc sống và những phút giây giải trí hữu ích. Mời các bạn cùng theo dõi các tập phim của "Quà Tặng Cuộc Sống" :


Thứ Ba, 25 tháng 1, 2011

Nghe đọc truyện audio : Chú Chó Shiloh - Phyllis Reynolds Naylor

Hình ảnh hồn nhiên của cậu bé Marty trong cuộc “đấu tranh” vì tình yêu thương đối với chú chó bị ngược đãi Shiloh mang đến cho người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, trong trẻo



Những suy nghĩ, hành động của Marty thơ ngây nhưng được hun đúc một sức mạnh từ những yêu thương thơ trẻ. Cậu bé quyết tâm cứu Shiloh ra khỏi tay Judd-người chủ nghiện rượu hay đánh đập các con vật cưng của mình. Marty bí mật để dành thức ăn cho Shiloh và thuyết phục ba mẹ, rồi chấp nhận làm công cho Judd chỉ để được giữ lại chú chó cưng cho mình.

Ngỡ là những trò chơi con trẻ, nhưng ý chí quyết đoán và bản lĩnh của nhân vật nhí cũng thể hiện được sức mạnh của tình yêu thương và nét đẹp của lòng bao dung. Nhưng thật lạ, tất cả những gì còn lại trong lòng độc giả khi khép lại trang cuối không phải chỉ có hình ảnh của Shiloh và Marty, hai nhân vật chính mà còn có hình ảnh của “gã nát rượu” Judd – từng gây ấn tượng xấu cho độc giả ngay từ đầu khi nhân vật này cứ luôn tỏ ra là một gã cao bồi thích sử dụng súng để hành xử và luôn hung hãn trong cách cư xử. Nhân vật đã xoay chiều đổi hướng với hàng loạt biến động cuộc sống và những thay đổi tâm lý đưa người đọc từ bất ngờ này đến bất ngờ khác...

Một tạp chí Mỹ đã đánh giá bộ truyện "Chú chó Shiloh" có thể trở thành tác phẩm kinh điển. Câu chuyện về sự hối lỗi và chuộc lại lỗi lầm có sức lay động lòng người đã để lại cảm giác tốt đẹp trong lòng người đọc. Bộ truyện đã giành được giải thưởng Newbery Medal – giải thưởng danh giá của Hiệp hội Thư viện sách thiếu nhi Hoa Kỳ.

Mời các bạn xem truyện tại đây, nghe đọc truyện theo YouTube tại đây .


Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2011

Nghe đọc truyện audio : Hãy để ngày ấy lụi tàn - Gerald Gordon

"...hãy để ngày ấy lụi tàn, ngày mà tôi sinh ra đời và đêm mà người ta nói rằng đã có một con người được kết thành thai..."



Hãy để ngày ấy lụi tàn với tựa tiếng Anh là Let the day perish do Gerald Gordon viết năm 1952 do một luật sư sống ở Nam Phi trong thời kì xuất hiện nạn phân biệt chủng tộc Apathied. Vì lí do này nên nội dung cây chuyện xoay quanh vấn đề phân biệt chủng tộc ở Nam Phi.

Người phụ nữ da màu Marry bị mắc kẹt giữa hai thế giới người Âu và da màu, cô là người phụ nữ da màu có học và xinh đẹp yêu và lấy một người lính Anh Geogio. Họ không được chào đón ở thế giới người Âu, Merry cũng tự xa lánh khỏi những người da màu nghèo hèn, họ sống một cuộc sống chật vật với đồng lương quản lí quán rượu của người chồng ở khách sạn Đại Bàng. Như một ân sủng họ sinh được một đứa con da trắng Antonie khội ngô, nhanh nhẹn và được học ở trường dành riêng cho người da trắng. Nhưng đứa con thứ hai Steve lại mang màu da của Marry.

Xã hội đã không chấp nhận sự tồn tại của cả hai anh em, Marry quyết định gửi Antonie đi học trong một trường Âu ở Winston, chính điều này đã đẩy hai anh em vào hai thế giới hoàn toàn khác nhau. Vì tương lai phía trước của mình Antonie đã bỏ rơi gia đình, bỏ rơi mẹ và em, hoàn toàn xa lánh họ. Đến khi gặp Ren, một cô gái xinh đẹp cá tính Antonie cũng không dám tiết lộ ra sự thực khủng khiếp sau lưng mình. Sau một thời gian dài không gặp lại nhau, hai anh em phải trải qua những giờ phút đau khổ khi chứng kiến cái chết của cha và mẹ.

Sau này Antonie trở thành một luật sư có tài, được trọng dụng trong thế giới của người da trắng. Cái chết của mẹ đã làm cho Antonie thay đổi cách nghĩ và đã đổi sang họ mẹ để tưởng nhớ về mẹ. Trái với sự lạnh nhạt mà Antonie dành cho mình, Steve luôn dõi bước theo anh. Sau bao nhiêu biến cố xảy ra hai anh em gặp nhau đúng vào ngày một luật sư đến tìm Antonie tại nhà anh, vì muốn che dấu em mình mà Antonie đã lỡ tay ngộ sát tên luật sư ấy.

Trong thời gian hầu tòa Antonie đã ngẫm nghĩ về thân phận của mình, về bức rèm bí mật về cuộc đời mình mà anh đã che dấu bấy lâu nay. Anh luôn sống trong giả dối lo sợ, còn Steve sống thoải mái với những hoạt động của mình trong một tờ báo chống phân biệt chủng tộc. Cuối cùng để chứng minh cho sự trong sạch của mình anh phải thú nhận hết nguồn gốc của mình.

Trong buổi cuối cùng của phiên tòa Antonie đã nói:"chúng tôi đã bị đem ra xử án từ lâu. Phiên toàn đó đã diễn ra từ trước khi chúng tôi ra đời. Chúng tôi bị xử án vì những hành động của tổ tiên chúng tôi, bị kết tội và bị kết án phải sống trong một thế giới đầy thiên kiến về màu da. Cho dù giờ đây các ngài có tha bổng cho tôi, bản án đó vẫn còn hiệu lực. Nó vẫn còn hiệu lực cho đến khi cuộc sống dưới trần thế của chúng tôi chấm dứt", Antonie kết thúc câu chuyện khi anh đứng trước mũi Hảo Vọng nghĩ về con đường đầy gian truân phía trước của mình.

Mời xem truyện "Hãy Để Ngày Ấy Lụi Tàn" tại đây .

Mời các bạn nghe audio truyện theo YouTube tại đây


Thứ Bảy, 22 tháng 1, 2011

Phúc âm Chúa Nhật 3 TN (23/01/2011)

Nguồn : www.40giayloichua.net Mời nghe chương trình tĩnh tâm và bài giảng với chủ đề " THEO CHÚA VÁC THẬP GIÁ" của Linh Mục Phê Rô Bùi Quang Tuấn . CSsR BÌNH MINH CỦA MỘT THỜI ÐẠI MỚI: NƯỚC TRỜI ÐÃ ÐẾN GẦN Lm.Carôlô Hồ Bạc Xái 1. Cuộc phiêu lưu vĩ đại từ một vùng đất bị khinh khi Ðối với dân thủ đô, Galilê chỉ là tỉnh lẻ. Ðối với người mộ đạo sùng tín, miền Bắc thật đáng ngờ vực. Ðó là miền hầu như thuộc ngoại bang, nơi hội tụ dân ngoại. Một dân cư pha tạp, nông dân và ngư dân có giọng nói nặng chịch vốn là đề tài phong phú cho các câu chuyện diễu cợt hằng ngày... Trong khi những tín đồ chính thống ở kinh đô nghiền ngẫm sự khinh khi, chiêm ngưỡng sự siêu việt của mình, chế diễu và tránh xa những người bị loại trừ ở phía Bắc, thì Ðức Messia, Cứu Chúa, Ánh Sáng muôn dân, tới cư ngụ tại Capharnaum, bên bờ hồ. Xa khỏi kinh đô vĩnh hằng, khỏi thói ngạo mạn, tự tôn, và sự mù quáng của họ... Chính trên bờ hồ chứ không phải trên các bậc cấp của đền thờ, giữa đám ngư phủ bận rộn chứ không phải nơi những vị tư tế chuyên lo phụng tự mà Ðức Giêsu sẽ chọn các môn đệ của Người. Ðúng là một nước cờ ngược lại mọi logic. Chính những người ít khả năng nhất, ít được chuẩn bị nhất lại là những người đầu tiên nhận được ánh sáng và đi theo Ðấng là "đường, sự thật và sự sống". Ngay tức khắc, thành phần lao động đơn sơ chất phác nhưng có trái tim nhạy bén đã tin tưởng vào ngôn sứ... Những người tội lỗi bỗng nhiên bị chất vấn, đã cảm thấy ánh sáng mà ngay những kẻ rắc rối khó tính nhất cũng phải nhượng bộ... và họ đã đi theo Người. Cuộc phiêu lưu vĩ đại đã khởi đi từ một miền đất bị nguyền rủa. Thế giới mới đã ăn rễ sâu vào vùng đất nhơ uế nhưng cởi mở đón tiếp mọi bất ngờ của Thánh Thần, của Thiên Chúa... (F. Delectos, được trích bởi Fiches dominicales, trang 169-170). 2. Con đường sáng Cuộc đời chúng ta đầy dẫy bóng tối: tối tăm về sự thật: cho dù có nhiều phương tiện truyền thông, Nhưng khó mà biết sự thật. tối tăm về tương giao: ngay cả những người sống cạnh nhau cũng chưa hiểu nhau. tối tăm do tội lỗi, do mù quáng, do cố chấp hẹp hòi... tối tăm do hoàn cảnh bên ngoài nhiều bất công, gian dối, thù hận... Trong khung cảnh tối tăm ấy, chúng ta hãy nhớ những lời của Ðức Giêsu: "Ta là ánh sáng thế gian" (Ga 9,12); "Hãy tin vào ánh sáng và các ngươi sẽ trở thành con cái sự sáng" (Ga 12,36). Nhưng tin vào ánh sáng là gì? Là tin vào mặc khải của Ðức Giêsu, cũng như 4 môn đệ đầu tiên trong bài Tin Mừng hôm nay. Họ đã nghe tiếng gọi của Ngài, đã từ bỏ tất cả để đi theo Ngài. Ngài sẽ giải đáp cho tất cả những băn khoăn thắc mắc của chúng ta; Ngài sẽ cho ta biết ý nghĩa cuộc đời ta là gì; Ngài cho chúng ta biết chúng ta có một người Cha trên trời hết lòng yêu thương chúng ta; Ngài sẽ dạy cho chúng ta biết sống yêu thương như thế nào; và cuối cùng Ngài sẽ dẫn chúng ta về nhà Cha trên trời. 3. Sự hiệp nhất các kitô hữu Chúa nhựt hôm nay nằm trong tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất các kitô hữu. Các bài đọc trong Thánh lễ hôm nay cung cấp nhiều chất liệu cho chúng ta suy nghĩ về sự hiệp nhất này: Bài đọc 1: Ðức Giêsu là ánh sáng bừng lên giữa thế gian. Ngài muốn soi sáng tất cả mọi người, kể cả các anh em ly khai, những người lạc giáo, những người lương và những người vô thần... Bài đọc 2: Ðức Giêsu đã chịu chết vì mọi người và cho mọi người. Nếu các kitô hữu chia rẽ nhau thì chẳng khác gì Ðức Giêsu bị chia năm xẻ bảy sao! Bài đáp ca: "Ðiều tôi tìm kiếm khấn xin, là luôn được ở trong nhà Chúa tôi". Tại sao những anh em cùng tin Ðức Kitô lại không sống hòa thuận với nhau trong cùng một ngôi nhà của Chúa? Bài Tin Mừng: "Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần". Tất cả mọi người, dù là công giáo hay tin lành, chính thống v.v. đều phải sám hối về những tội lỗi của mình để có thể được vào Nước Chúa. 4. Chuyện minh họa "Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng" a/ Làm phép nhà Một bà kia mời linh mục đến làm phép nhà mình. Bà hướng dẫn cha đi rảy nước thánh mọi nơi trong nhà: phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp, phòng ăn... Cha thấy chỗ nào cũng sạch sẽ và ngăn nắp. Cho nên chỗ nào cha cũng rảy nước thánh, kể cả cầu thang. Ngay cả hai con mèo đang nằm ngủ trên một bậc thang cũng được cha rảy nước thánh, khiến nó giật mình thức dậy kêu meo meo và chạy vội đi nơi khác, và mọi người hiện diện phải phì cười. Sau khi làm phép xong mọi nơi ở nhà trên thì đến hầm kho. Bà chủ nhà chần chừ không muốn dẫn cha xuống. Vị Linh mục hỏi: - Sao thế? - Dưới đó dơ lắm. - Càng dơ thì càng phải làm phép chứ. - Nhưng nó lộn xộn lắm. - Càng lộn xộn càng phải làm phép. - Và nó tối tăm lắm. - Cho nên phải mang ánh sáng đến cho nó. Lời bàn: Con người chúng ta cũng giống như một gian nhà. Những nơi mình muốn che giấu nhất chính là những nơi tối tăm xấu xa nhất. Nhưng đó cũng là những nơi cần mang ánh sáng tới nhất. b/ Mang ánh sáng đến chỗ tối tăm Một ngày kia Mẹ Têrêsa Calcutta đến Melbourne, Australia. Mẹ đi thăm một người nghèo không ai biết đến. Ông sống trong một căn phòng rất tồi tệ, đồ đạc dơ bẩn ngổn ngang. Phòng không có cửa sổ mà cũng chẳng có lấy một bóng đèn. Mẹ Têrêsa bắt tay vào thu dọn đồ đạc. Ông gắt lên: "Cứ để yên mọi thứ cho tôi". Nhưng Mẹ cứ tiếp tục. Sau khi mọi thứ đã ngăn nắp, Mẹ Têrêxa tìm thấy một chiếc đèn trong một góc phòng. Ðèn bám đầy bụi, chứng tỏ lâu lắm rồi không ai đụng đến. Mẹ lau chùi sạch sẽ rồi hỏi: - Sao lâu nay ông không thắp đèn lên? - Thắp làm chi. Có ai đến thăm tôi đâu. Tôi đâu cần thấy mặt ai. - Thế ông có hứa sẽ thắp đèn lên khi một nữ tu của tôi đến thăm ông không? - Vâng, nếu tôi nghe có tiếng ai đến thì tôi sẽ thắp đèn lên. Từ đó, mỗi ngày, hai nữ tu của Mẹ Têrêxa đều đến thăm ông và giúp đỡ ông. Một hôm ông nói với một trong hai nữ tu ấy: - Bây giờ tự tôi đã biết thu dọn phòng tôi rồi. Nhưng xin làm ơn về nói với nữ tu đầu tiên rằng ngọn đèn mà Bà đã thắp lên đến nay vẫn sáng. ÁNH SÁNG GIỮA ÐÊM ÐEN Lm. Mark Link Một số du khách đang đi viếng thăm các hang động Carlsbad nổi tiếng ở Mễ Tây Cơ. Họ đang ở trong một cái hang khổng lồ thì đèn bỗng nhiên bị tắt ngúm. Trong đám người đang quờ quạng trong tăm tối này. Có hai đứa bé: một đứa trai 8 tuổi và đứa em gái của nó 5 tuổi. Tình trạng này thật là khủng khiếp nhất đối với trẻ con. Vì thế cô bé đột nhiên khóc thét lên. Lúc đó người ta nghe thằng anh 8 tuổi của nó lên tiếng: "Ðừng lo, Amy, đằng kia sẽ có người bật đèn sáng trở lại bây giờ!". Câu chuyện trên là một minh hoạ tuyệt vời cho lời tiên tri của Isaia trong bài đọc thứ nhất. Thánh Matthêu đã áp dụng chính lời tiên tri này vào việc Gíang lâm của Chúa Giêsu trong bài Phúc âm hôm nay: "Dân chúng đang sống trong tăm tối sẽ nhìn thấy ánh sáng vĩ đại. Ánh sáng đó sẽ toả chiếu trên những kẻ sống trong vùng tối tăm chết chóc". Thực vậy, trước khi Chúa Giêsu giáng lâm, thế gian ở trong tình trạng tối tăm và đáng sợ y hệt như tình trạng các hang động Carlsbab sau khi đèn đuốc tắt ngúm. Bóng đêm dữ dội và kinh khiếp quá đến nỗi nhiều người phải than khóc. Nhưng ngay giữa tình trạng hãi hùng này đã vọng lên tiếng nói trấn an của Isaia, là vị tiên tri đã hứa với dân chúng rằng chẳng bao lâu nữa một ánh sáng vĩ đại sẽ xuất hiện để phá tan màn đêm tăm tối. Và lời hứa của Isaia đã được thực hiện viên mãn khi Chúa Giêsu giáng lâm. Các tác giả tu đức bảo chúng ta rằng điều đã xảy ra đến với Israel trên bình diện một dân tộc thì cũng sẽ xẩy đến với mỗi người chúng ta xét trên bình diện cá nhân. Nói cách khác, trong đời sống chúng ta có những lúc ánh sáng vụt tắt khiến chúng ta rơi vào tăm tối y hệt như dân chúng phải sống trong tối tăm trước khi Chúa Giêsu giáng lâm. Hoặc nói theo hình ảnh các hang động Carlsbab, cuộc sống chúng ta có những lúc ánh sáng vụt tắt bỏ mặc chúng ta rơi vào tăm tối giống như cô bé 5 tuổi đầy sợ hãi. Những lúc như thế, chúng ta cần biết rằng vẫn có người biết bật ánh sáng lên trở lại. Một ví dụ rất tuyệt vời minh hoạ điều chúng ta đang bàn là trường hợp Darryl Stingley. Cuối thập niên 1970, Darryl Stingley, một cầu thủ thuộc hàng đầu thế giới, là thành viên của đội bóng New England Patriot. Một buổi chiều tháng tám nọ, trong một trận đấu trước mùa bóng, Daryl đã bị cầu thủ Jack Tatum của đội Oakland Raiders chơi xấu rất nặng. Cú va chạm mạnh vào xương do Tatum gây ra khíên chàng vận động viên 27 tuổi đời này bị tê liệt từ ngực trở xuống. Hiện nay Darryl chỉ có thể sử dụng được một bàn tay và suốt ngày phải quanh quẩn với chiếc xe lăn chạy bằng điện. Ðối với Darryl Stingley, chiều hôm tháng tám ấy, ánh sáng đã tắt lịm rồi. Thế nhưng, Darryl không bao giờ đầu hàng. Chàng biết rằng đằng kia vẫn có một người có thể bật ánh sáng lên trở lại. Chàng tin vào lời tiên tri Isaia: "Dân chúng đang sống trong tăm tối sẽ nhìn thấy ánh sáng vĩ đại. Ánh sáng đó sẽ chiếu dọi trên những kẻ đang sống trong tối tăm chết chóc". Và khi Ánh sáng đã bùng lên trở lại cho Darryl thì Ánh sáng ấy lại rạng rỡ hơn bao giờ hết. Darryl hiện vẫn phải ngồi xe lăn và không bước bộ được nhưng chàng đã có được một tầm nhìn hoàn toàn mới mẻ về chính mình và cuộc sống. Trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí Newsweek Darryl nhấn mạnh rằng về một số phương diện, cuộc sống hiện nay của chàng tốt đẹp hơn lúc trước. Chàng nói về những ngày còn chơi bóng với đội Patriots như sau: "Tôi đã từng có một thị kiến lờ mờ. Tôi chỉ muốn được trở thành một vận động viên giỏi hết sức có thể, nên rất nhiều sự việc vào thời gian đó đã bị lơ là bỏ qua. Giờ đây tôi đã trở về lại với dân chúng." Stingley còn nói rõ hơn với phóng viên tờ Chicago Tribune rằng tấn thảm kịch đã biến cuộc sống của chàng nên tốt hơn một cách mới mẻ lạ lùng: "Ðối với tôi đây là một cuộc tái sinh. Không chỉ về mặt thể lý mà còn về mặt tâm linh nữa... Hiện nay, tôi đã thực sự tìm được nhiều ý nghĩa và mục đích hơn cho cuộc sống hơn bất cứ thời điểm nào trước đây". Ðó là những lời thật khó tin thốt ra từ miệng một chàng thanh niên mà giấc mơ trở thành ngôi sao bóng đá đã bị lịm tắt và chôn vùi trong chiếc xe lăn. Tuy nhiên, quý vị còn nghe được những lời tương tự nơi hàng trăm con người đã từng trải qua những thời kỳ tăm tối như thế trong cuộc đời họ. Một khi ánh sáng bừng lên trở lại, thì ánh sáng ấy lại chói lọi hơn bao giờ hết. Và điều ấy cũng đúng với trường hợp chúng ta. Cái chết của một vị hôn thê sau bao năm dài chung sống, sự ruồng rẫy của một tình nhân, giấc mơ thành đạt trong kinh doanh bị tan vỡ, sức khoẻ bị tiêu tán... Tất cả những điều này có thể quẳng chúng ta vào bóng đêm tăm tối tạm thời. Tuy nhiên, một khi thảm kịch như thế đổ xuống cho mình, chúng ta chỉ cần nhớ lại lời tiên tri Isaia: "Dân chúng đang sống trong tăm tối sẽ nhìn thấy ánh sáng vĩ đại. Ánh sáng ấy sẽ chiếu dọi trên những kẻ đang sống trong vùng tối tăm chết chóc". Chúng ta chỉ cần nhớ lại lời cậu bé trong hang trấn an cô em gái nhát sợ của mình: "Ðừng lo! Anny, đằng kia sẽ có người bật đèn sáng trở lại bây giờ". Hoặc chúng ta chỉ cần nhớ lại những lời tương tự mà Darryl Stingley đã từng nói với phóng viên tờ Chicago Tribune "Ðối với tôi, đây là một cuộc tái sinh... Thực sự tôi đã tìm ra được nhiều ý nghĩa và mục đích hơn cho cuộc sống hơn bất cứ lúc nào trước đây". Và một khi ánh sáng đã trở lại với chúng ta điều này chắc chắn sẽ xảy ra -- chúng ta sẽ thấy Ánh sáng ấy rạng rỡ hbao giờ hết. Chúng ta hãy kết thúc với bài ca phổ biến do Ðức Hồng Y Newman sáng tác. Bài ca này diễn tả cuộc tìm kiếm chính lộ của Ngài để bước theo Chúa Giêsu. Hồng Y Newman viết bài ca này khi còn là một thanh niên từ Ý vượt biển trở về cố hương của Ngài là Anh Quốc. Trong lúc con tàu nán lại ở Sicile, chàng trai Newman bị ngã bệnh suýt chết. Trong thời gian bình phục, chàng đã viết lại những dòng sau: Ôi ánh sáng yêu thương, Xin dẫn con đi giữa cơn tăm tối mịt mùng. Xin hãy dẫn dắt con, Vì bóng đêm quá dầy đặc, Mà con lại đang xa nhà. Xin hãy dẫn dắt con, Hãy điều khiển bước chân con. Con không xin đựơc trông thấy Cảnh tượng từ đằng xa, Mà chỉ xin được dẫn đi từng bước, Từng bước một thôi! HIỆP NHẤT TRONG ĐỨC KITÔ Lm. Bùi Quang Tuấn, C.Ss.R. Chuyện kể một nhà buôn nọ rất sùng đạo. Mặc dầu vất vả làm ăn nhưng anh ta không bao giờ bỏ việc khấn vái với thần thánh. Gặp kỳ cạnh tranh gay gắt trong công việc, anh ta càng gia tăng lời khẩn cầu gấp bội. Động lòng trắc ẩn, một hôm thần tiên hiện ra với anh và nói: “Thấy nhà ngươi thành tâm cầu xin nên ta không nỡ chối từ. Thôi bây giờ cứ cho ta biết ngươi muốn gì, ta sẽ ban cho… và đồng thời để tỏ cho nhân gian biết lòng quảng đại của ta thì hễ ban cho ngươi điều chi, ta cũng ban cho đồng nghiệp hay hàng xóm của ngươi như thế… và có khi gấp đôi luôn”. Nghe thần phán, lòng anh thương gia chuyển từ vui mừng hân hoan qua sầu buồn lo lắng. Anh tự nhủ: “Nếu bây giờ mình xin một chiếc Lexus thì mấy đứa bạn… chúng nó sẽ được hai chiếc. Thế thì không được! Nhưng nếu mình xin cho được trúng số 5 triệu thì mấy nhà hàng xóm… họ sẽ được tới 10 triệu. Thế lại càng không được! Còn nếu xin cho có vợ đẹp con khôn thì coi chừng đồng nghiệp sẽ có vợ đẹp gấp đôi vợ mình, con khôn gấp đôi con mình… Đó là chưa nói tới chuyện chúng nó được hai vợ, trong khi mình chỉ có một… Thời buổi cạnh tranh như thế này thì phải làm sao cho hơn người chứ. Nhưng xin như thế thì làm sao mà hơn được”. Chàng thương gia nhíu mày đắn đo. Một lát sau, chợt anh reo lên như vừa tìm ra điều gì thú vị. Anh đến quì xuống và thưa với thần: ‘Lạy ngài, xin vui lòng cho tôi đui một con mắt”. Quả là một lời khẩn cầu quái lạ! Không xin cho mình được may mắn vì sợ người khác trỗi hơn. Song lại xin cho mình rủi ro để kẻ khác sẽ bị tổn hại nhiều hơn. Xin cho mình đui một con mắt để kẻ khác mù luôn. Đây quả là tiểu nhân và dã tâm. Thế nhưng, nếu thành thật rà soát lòng mình thì không chừng tính chất dã nhân và tiểu tâm kia, tức là những đố kỵ, ghen ghét, nhỏ nhen, tàn bạo lại đang ẩn nấp đâu đó trong người tôi, để nếu được thành công may mắn hơn ai thì nó sẽ nằm im bất động. Thảng hoặc, nó còn tỏ ra “quảng đại” và “thương xót” kẻ không may. Nhưng nếu ai đó trỗi vượt hơn mình thì cái chất tiểu tâm và dã nhân kia sẽ bùng lên khó lòng dập tắt. Chính tính chất đố kỵ, ghen tương, so bì kia đã là mầm mống của bao chia rẽ, bè phái, tranh chấp, phân ly, giận hờn, đui chột, mù loà trong cộng đồng nhân loại. Lắm người chẳng chịu nhường bước ai; điều gì của mình cũng đúng hơn, đẹp hơn, tốt hơn, và như thế kẻ khác tất phải sai hơn, xấu hơn, và dở hơn. Tình trạng hơn thua làm nảy sinh phe nhóm bè phái, cùng với bao tranh chấp ghét ghen, không chỉ sảy ra ngoài đời, trong các đoàn thể chính trị xã hội, nhưng phải đau lòng mà nói: có khi nó còn xuất hiện trong những tổ chức mang danh có đạo, hay thuộc về giáo hội. Và đâu phải chỉ có trong Giáo hội của thời đại hôm nay, nhưng từ thời sơ khai, hiện tượng tranh chấp, phe nhóm cũng đã xảy ra: “Tôi, tôi về phe Apollo. Tôi, tôi về phe Phaolô. Còn tôi, tôi về phe Kêpha Phêrô”. Sự phân chia phe nhóm trong cộng đoàn thế kia, một phần là do các sở thích và tình cảm cá nhân quá nặng. Một số thấy Phaolô là con người cương trực, ăn thẳng nói ngay, nên phục và mến lắm. Nhưng số khác thì không chịu nổi tính khí đó, nên đã chạy theo Phêrô, vị này vừa là thủ lãnh tông đồ lại vừa “dễ dãi, sao cũng được”. Thơ Galat có kể rằng khi vắng mặt các thành viên Do thái trong cộng đoàn Thánh Giacôbê, Phêrô đã ngồi ăn chung, uống chung với dân ngoại, nhưng khi thấy họ đến thì ông lại tránh đi. Thế nên một lần kia Phaolô đã trách Phêrô trước mặt mọi người: “Nếu ông, một người Do thái, ông còn sống như người ngoại chứ không như người Do thái, thì làm sao ông lại thúc bách người ngoại sống như Do thái được?” (Gal 2:14). Có lẽ vì Phêrô lỏng lẻo như thế nên nhiều người thích và đi theo ủng hộ. Trong khi đó một số khác lại khoái Apollo. Ông này ăn nói lưu loát, có khả năng diễn thuyết hùng hồn, bao biện luận để minh chứng Chúa Giêsu là Đức Kitô thật là sắc bén và chí lý. Thế nên họ thích nghe hơn, và rồi cái gì Apollo nói cũng đúng cũng hay, còn Phaolô thì cứng quá, và Phêrô lại mềm mỏng quá. Những khuynh hướng lưu luyến và tình cảm nặng tính riêng tư đó đã tạo nên phân rẽ trầm trọng cộng đồng Dân Chúa thời sơ khai, đến nỗi Phaolô đã kêu lên: “Nhân danh Đức Giêsu Kitô, tôi nài xin anh em hãy lo cho được đồng tâm hiệp ý với nhau. Đừng chia rẽ, nhưng hãy đoàn kết trong cùng một thần trí và một tâm tình” (1 Cor 1:10). Thiết tưởng, lời kêu gọi đó vẫn còn vang vọng cho đến hôm nay, trong mọi cơ cấu tổ chức của giáo xứ, cộng đoàn, và gia đình. Hãy đồng tâm ý hiệp với nhau. Đừng vì khuynh hướng, sở thích, quan điểm, hay tình cảm cá nhân chi phối mà ủng hộ, hợp tác với người này người nọ hoặc chống đối, chê bai, lạnh lùng với người kia. Lời Thánh Phaolô vẫn còn đó: Đức Kitô bị phân chia rồi sao? Chân lý và Tin Mừng của Đức Kitô bị xé mảnh rồi sao? Và Tin Mừng làm sao có được trong ghen ghét, tị hiềm, đố kỵ, phân ly, xâu xé. Có chăng chỉ là tin buồn thôi. “Nhân danh Đức Kitô, tôi nài xin anh em hãy liên kết trong cùng một thần trí và một tâm tình”. Thần trí đó là thần trí yêu thương, và tâm tình đó là tâm tình khiêm hạ. Chớ ao ước những điều bất chính, khổ đau cho kẻ khác. Đừng muốn mình chột để người ta bị mù. Nhưng hãy cầu cho nhau những sự may lành. Hãy “vui với người vui”, vì điều đó đôi khi còn khó hơn “khóc với người khóc”. Hãy tạ ơn Thiên Chúa cho nhau. Và điều quan yếu, hãy hiệp nhất với nhau. Hiệp nhất chính là tinh thần và sứ mạng của Chúa Giêsu mà những ai tự xưng là môn đệ của Ngài phải tiếp nối. Bởi lẽ Chúa Giêsu đến thế gian không mục đích nào khác hơn là gieo trồng hiệp nhất: hiệp nhất con người lại với Thiên Chúa, hiệp nhất con người lại với nhau, hiệp nhất bao tan vỡ tâm hồn hầu qua đó tình thương của Thiên Chúa, bình an từ trời cao, và niềm vui ơn cứu độ được tuôn trào đến khắp trần gian. Tình thương, bình an, và niềm vui đó cũng chính là phần thưởng muôn đời cho những ai can đảm bước trên con đường mà Đức Giêsu đã đi. Mời các bạn cùng cầu nguyện với 3 phút Thánh vịnh

Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2011

Nghe Audio truyện: Tiếng gọi nơi hoang dã - Jack London



Tiếng gọi nơi hoang dã (nguyên bản tiếng Anh: The Call of the Wild) là một tiểu thuyết của nhà văn Mỹ Jack London.

Cốt truyện kể về một con chó tên là Bấc (tiếng Anh: Buck) đã được thuần hóa, cưng chiều. Nhưng một loạt các sự kiện xảy ra khi Bấc bị bắt khỏi trang trại để trở thành chó kéo xe ở khu vực Yukon lạnh giá, trong giai đoạn mọi người đổ xô đi tìm vàng thế kỷ 19, thiên nhiên nguyên thủy đã đánh thức bản năng của Bấc. Bấc trở lại cuộc sống hoang dã.

Xuất bản lần đầu năm 1903, Tiếng gọi nơi hoang dã là tiểu thuyết được nhiều người đọc nhất của Jack London và được xem là tác phẩm hay nhất của ông. Do nhân vật chính là một con chó, đôi khi người ta phân loại tiểu thuyết này là một tiểu thuyết dành cho thanh thiếu niên, phù hợp cho trẻ con, tuy trong tác phẩm không thiếu những cảnh hành hạ súc vật, sự chết chóc, sự tranh đoạt, và chứa đựng nhiều cảnh bạo lực thô bạo.

Sau tiểu thuyết này, năm 1906 Jack London viết quyển Nanh Trắng (White Fang), một tiểu thuyết với bối cảnh tương tự (phương bắc lạnh giá), nhưng chủ đề lại trái ngược, kể về một con chó sói hoang dã được Weedon Scott, một chuyên gia khai khoáng đến từ San Francisco thuần hóa.

Mời các bạn xem truyện "Tiếng gọi nơi hoang dã" tại đây

01. Lời Tựa - NXB Văn Học
02. Chương 1: Vào cõi nguyên sơ chưa ai biết - Jack London
03. Chương 2: Luật của dùi cui và răng nanh - Jack London
04. Chương 3: Con thú nguyên thủy thống soái - Jack London
05. Chương 4: Vị chúa tể mới - Jack London
06. Chương 5: Lao khổ của dây cương và đường mòn - Jack London
07. Chương 6: Vì tình yêu thương của một con người - Jack London
08. Chương 7: Âm vang của tiếng gọi - Jack London

Mời nghe truyện "Tiếng gọi nơi hoang dã" theo YouTube tại đây



Mời xem phim tại đây



Thứ Hai, 17 tháng 1, 2011

Xem phim TQ : Đại Đường Nữ Tuần Án (36 tập)



Nhân vật chính trong phim là nữ quan tài trí Tạ Dao Hoàn dưới triều của Võ Tắc Thiên. Tuy tước vị nhỏ bé nhưng cô không vì thế mà an phận hay sợ sệt cường quyền. Khi trong cung liên tiếp xảy ra những vụ án cung nữ bị giết hại, tổng quản thái giám lo sợ mất chức nên bưng bít thì Tạ Dao Hoàn cùng Chu Nguyệt Tiên lại âm thầm từng bước điều tra, bất chấp cả việc tính mạng của hai người bị đe dọa.Trong quá trình hành sự, cả hai đã quen biết Đường Mẫn và kết giao tình tỉ muội, cũng như gặp được Tần Minh – vị tướng quân luôn lạnh lùng, ghét bỏ phụ nữ.

Cuối cùng, Tạ Dao Hoàn cũng đưa chân tướng “vụ án không manh mối” ra ánh sáng. Cô được Võ hậu phong chức khâm sai, đến vùng Kỳ Châu điều tra vụ án Giang tham quân và các quan tiền nhiệm liên tục bị ám sát trước đó. Chu Nguyệt Tiên cùng Đường Mẫn theo phò trợ Tạ Dao Hoàn. Tần Minh cũng đi theo vừa hỗ trợ, vừa giám sát hành động của vị khâm sai nữ quan.

Trên đường đi, Tạ Dao Hoàn gặp nhiều chuyện bất bình, oan sai nên dừng chân điều tra, phá án, trả lại sự công bằng cho người dân vô tội. Cô còn gặp được đại hiệp trí dũng vô song Liên Đình Phi nhiều lần ra tay tương trợ. Tâm tư liên thông, Tạ Dao Hoàn và Liên Đình Phi dành cho nhau tình yêu sâu sắc, hẹn ước trăm năm. Nhưng cũng chính lúc này, khi xâu chuỗi những vụ án nhỏ, Dao Hoàn khám phá âm mưu thâm độc từ trong nội bộ triều đình cùng thân phận “hai mặt” của Tần Minh.

Mời các bạn xem phim tại đây



Thứ Bảy, 15 tháng 1, 2011

Phúc âm Chúa Nhật 2 TN - Chiên Thiên Chúa (16/01/2011)

Nguồn : www.40giayloichua.net CHÚA GIÊSU LÀ AI? Lm.Carôlô Hồ Bạc Xái 1. Ðộc hành hay đồng hành Khi phải làm một chuyến hành trình dài, người ta cần có bạn đồng hành, để có bạn đường mà chia vui xẻ buồn, nói chuyện với nhau, và giúp đỡ nhau. Hai môn đệ hành trình Emmau nhờ đi chung với nhau nên đã san sẻ cho nhau nỗi buồn nặng trĩu sau những biến cố đau thương xảy ra tại Giêrusalem. Họ lại có được một bạn đồng hành nữa là Ðức Giêsu Phục Sinh. Chính Người Bạn đồng hành này đã xóa tan mọi sầu lo của họ và làm cho niềm tin của họ sống lại. Ðời người trên dương thế là một cuộc hành trình dài thăm thẳm, không biết bao giờ mới xong, cũng không chắc sẽ đi đến đích hay không. Vậy mà có nhiều người cứ mãi độc hành: một mình tìm đường, một mình đi, một mình xoay trở trước những khó khăn... Thật là phiêu lưu! Mùa thường niên của năm Phụng vụ cũng là một cuộc hành trình, nhưng không phải độc hành, mà là đồng hành với Chúa Giêsu: chúng ta cùng với Ngài đi qua những chặng đường từ Nadarét đến Galilê để tới Giêrusalem; từ gian khổ đến vinh quang; từ chết đến sống lại. Có Ngài cùng đi với chúng ta, chúng ta không sợ lạc đường. Cùng đi với Ngài, cho dù nhiều lúc gặp khó khăn, chắc chắn chúng ta sẽ tới đích. Chúa Giêsu đồng hành với chúng ta nghĩa là Ngài sẽ vui khi chúng ta vui, Ngài sẽ buồn khi chúng ta buồn; chúng ta đồng hành với Chúa Giêsu cũng có nghĩa là ta sẽ được vui niềm vui của Ngài và buồn với nỗi buồn của Ngài. Ðời ta không cô độc, buồn tẻ... Tuy chỉ là "mùa thường niên" không có những lễ trọng, nhưng nếu chúng ta sống mùa này như một người đồng hành với Chúa, cuộc đời chúng ta chắc chắn sẽ rất có ý nghĩa. 2. Người Con và Người Tôi Tớ Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Giêsu với hai nét tương phản nhau: Ngài là Người Con yêu quý của Thiên Chúa cao sang, và Ngài là Người Tôi Tớ khiêm tốn thấp hèn. Thực ra hai nét trên không đối chọi nhau mà làm nổi bật nhau và soi sáng cho nhau: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa cao sang do cách Ngài sống như một Người Tôi Tớ; và Ngài là Người Tôi Tớ tuyệt hảo bởi vì Ngài là Con Thiên Chúa cao sang. Nhìn Chúa Giêsu, chúng ta rút ra được một triết lý sống: sống cao thượng trong hoàn cảnh tầm thường; và sống hoàn cảnh tầm thường với tâm hồn cao thượng. Cùng sống với Chúa Giêsu qua những biến cố mỗi tuần trong Mùa thường niên này, chúng ta có thể thực hiện được triết lý sống tuyệt vời ấy. 3. Con Chiên gánh tội trần gian Thời Cựu Ước, trong ngày lễ Ðền tội, người Do Thái bắt một con chiên đem đến cho Tư tế. Vị Tư Tế đọc một danh sách các thứ tội của dân và kêu gọi mọi người sám hối. Sau đó Tư Tế đặt tay trên đầu con chiên, ngụ ý trút hết danh sách tội ấy lên đầu nó, rồi đuổi nó vào sa mạc. Con chiên ấy được gọi là con chiên gánh tội. Khi Thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu Ðức Giêsu là "Con Chiên Thiên Chúa, Ðấng gánh tội trần gian", phải chăng Thánh Gioan cũng có ý rằng Ðức Giêsu đã gánh lấy tất cả tội lỗi chúng ta nên từ nay loài người không còn tội gì nữa? Ðơn giản và dễ dàng thế sao? Quả thực Ðức Giêsu đã gánh lấy tội trần gian. Việc này có nghĩa là nhờ Ngài mà tội lỗi chúng ta được tha thứ. Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta không phải làm gì cả. Cần phân biệt rõ giữa tội và thân phận tội lỗi. Ðức Giêsu gánh lấy và tha thứ tội lỗi chúng ta, như con chiên đã mang tội lỗi dân Do Thái vào sa mạc. Nhưng thân phận tội lỗi của chúng ta vẫn còn. Và Ðức Giêsu muốn giúp chúng ta cải thiện thân phận ấy, dĩ nhiên là với sự hợp tác của chúng ta. - Ngài giúp chúng ta thế nào? Bằng cách đến với chúng ta, sống gần chúng ta, gieo vào mảnh đất tâm hồn chúng ta hạt giống sự tốt lành và thánh thiện của Ngài. - Chúng ta hợp tác thế nào? Bằng cách tiếp nhận Ngài, sống với Ngài và để cho những hạt giống ấy lớn lên trong lòng mình. Sự tha thứ của Chúa và bí tích giải tội không phải là một thứ phù phép, mà là một trợ lực, một hạt giống. 4. "Ngài cao trọng hơn tôi" Ngày xưa một vì vua bảo một ông quan: "Khanh hãy đi khắp đất nước tìm về cho trẫm một người tốt". Ông quan này tính tình hung dữ, gian dối và không có bạn. Sau một thời gian đi tìm, ông trở về triều, tâu: "Thần đã đi khắp nơi, gặp hết mọi người. Nhưng chẳng tìm được người nào tốt cả. Ai cũng hung dữ, gian dối và không có bạn". Nhà vua sai một quan khác: "Khanh hãy đi khắp đất nước tìm về cho trẫm một người xấu". Ông này có lòng nhân từ, quảng đại và được mọi người thương mến. Sau một thời gian đi tìm, ông cũng trở về triều và tâu: "Hạ thần không thể chu toàn sứ mạng mà Bệ Hạ giao phó. Hạ thần đã gặp nhiều người gian lận, trộm cắp, tham lam... Nhưng chẳng có người nào thực sự xấu cả. Dù họ đã làm những điều ấy, nhưng trong thâm tâm ai cũng tốt" Câu chuyện trên muốn nói rằng ta có khuynh hướng nhìn người khác không theo lòng họ mà theo lòng ta. Thánh Gioan Tẩy giả thì không thế. Nếu như mọi người thì Gioan sẽ coi thường Ðức Giêsu, bởi Ngài đến sau ông; chẳng những thế ông còn coi Ngài là đối thủ của ông, bởi Ngài đang lấn dần ảnh hưởng của ông. Nhưng Gioan đã nghe theo sự soi sáng của Chúa Thánh Thần nên đã hiểu đúng về Ðức Giêsu và đã nhiệt tình giới thiệu Ngài cho mọi người: "Ngài đến sau tôi nhưng có trước tôi vì Ngài cao trọng hơn tôi". 5. Ðược kêu gọi nên thánh Trong thư gởi tín hữu Côrintô, Thánh Phaolô định nghĩa tín hữu là "những người được kêu gọi nên thánh". Nhưng "thánh" là gì? Theo thần học, chỉ có một mình Thiên Chúa là "thánh" (Kinh Sáng Danh: "Chỉ có Chúa là Ðấng Thánh"). Theo Thánh Kinh, những ai và những gì thuộc về Thiên Chúa cũng được gọi là "thánh", chẳng hạn Ðền thánh, Luật thánh, thánh nhân...; việc dâng hiến một người hoặc một vật cho Chúa được gọi là thánh hiến. Vậy tín hữu là những người được kêu gọi nên thánh có nghĩa là tín hữu được mời gọi ngày càng thuộc về Chúa hơn, ngày càng giống Chúa hơn. Nhưng làm thế nào để được như vậy? Cách tốt nhất là thường xuyên ở bên Chúa, nhìn vào Chúa và noi gương Chúa. Ðó là điều mà phụng vụ các ngày chúa nhựt quanh năm muốn giúp chúng ta. CHIÊN THIÊN CHÚA Lm. Mark Link Trong sách Samuel quyển hai, tiên tri Nathan có kể cho Vua Ðavit nghe câu chuyện sau: Hai người nọ là công dân trong cùng một thành phố. Một người thì giàu có và thế lực, người kia thì nghèo xơ, cô thân cô thế. Gã giàu nọ có một đàn chiên đông đến nỗi gã đếm không xuể, đang khi anh nghèo nọ chỉ có một chú chiên chỏ xíu. Tuy nhiên, những đứa con của anh nghèo nọ rất thương con chiên ấy và chơi đùa với nó suốt ngày. Chúng mang nó đến cả bàn ăn và chia cho nó phần thức ân ít ỏi của mình. Nathan kể rằng lũ trẻ còn dạy cho con chiên uống nước trong tách nữa và chú chiên ta thật chả khác nào một thành viên trong gia đình. Một ngày nọ, anh chàng giàu phải tiếp đãi một vị khách quan trọng đến thăm hắn. Hắn chẳng muốn giết bất cứ con chiên nào của mình để đãi khách cả. Vì thế hắn truyền cho đám tôi tớ chạy qua nhà anh chàng nghèo nọ, bắt con chiên của anh ta đem giết để đãi khách. Câu chuyện gây xúc động về sự độc ác của gã giàu nọ đó là một trong những hình ảnh của Gioan Tẩy Giả mường tượng trong tâm trí khi ngài đưa ngón tay xương xẩu chỉ vào Chúa Giêsu và nói với các đệ tử của mình: "Ðó là Chiên Thiên Chúa" (Ga 1: 29). Câu chuyện của Nathan về con chiên cưng của anh chàng nghèo nọ chắn chắn thích hợp để áp dụng vào trường hợp Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cũng rất được yêu thương. Và Ngài cũng bị đám người độc ác giết chết cách tàn bạo. Tuy nhiên, trong tâm trí thánh Gioan có một hình ảnh khác khi ngài đưa ngón tay chỉ vào Chúa Giêsu và nói: "Ðó là Chiên Thiên Chúa". Hình ảnh đó là hình ảnh những con chiên bị sát tế mỗi ngày trong đền thờ. Thiên Chúa đã phán với Moisê trong sách Xuất Hành như sau: "Suốt thời gian sắp tới, mỗi ngày các ngươi hãy hiến tế trên bàn thờ hai con chiên tuổi được một năm, một con hiến tế vào buổi sáng, con kia vào buổi chiều." (Xh 29: 38-39) Việc hy tế trong đền thánh được thi hành từ năm này qua năm khác, ngay cả trong thời kỳ rất đói kém, là thời thực phẩm rất hiếm hoi và nhiều người dân bị chết đói. Khi chỉ vào Chúa Giêsu và nói: "Kia là Chiên Thiên Chúa, Ðấng xoá tội trần gian", Gioan đang hình dung trong trí mình những con chiên hy tế được dâng lên mỗi sáng, mỗi đêm trong đền thờ để xoá tội cho dân. Thực ra, Gioan đang nói với các đệ tử mình: "Mỗi ngày chúng ta dâng chiên trong đền thờ vì tội lỗi chúng ta, nhưng chỉ có Thiên Chúa mới có thể cứu chúng ta khỏi những tội lỗi này". Trước Gioan Tẩy Giả rất lâu, các tiên tri đã nói về người tôi tớ kỳ nhiệm của Chúa một ngày kia sẽ chịu đau khổ và chết như một con chiên... Isaia đã mô tả cái chết đau thương của người tôi tớ này trong chương 53: 7-8 như sau: "Người đã bị đối xử tàn tệ, nhưng vẫn khiêm tốn chịu đựng, như một con chiên sắp bị đưa tới lò sát sinh, Người không hề thốt ra một lời. Người bị bắt, bị tuyên án và bị dẫn tới chỗ chết... Người đã phải chết vì tội lỗi chúng ta". Những lời của tiên tri Giêrêmia cũng rất phù hợp với con người Chúa Giêsu. Trong chương 11 câu 19, Giêrêmia viết: "Tôi giống như con chiên trung tín bị đem đi giết, và tôi không hề biết họ đang trù tính những điều độc ác chống lại tôi". Vì thế tước hiệu "Chiên Thiên Chúa" gợi lên hai hình ảnh sống động. Thứ nhất là hình ảnh của tình yêu và lòng trìu mến như chúng ta đã thấy trong câu chuyện của Nathan kể về gã giàu có và anh chàng nghèo nọ. Thứ hai là hình ảnh sự đau đớn và hy sinh như chúng ta thấy trong việc sát tế chiên trong đền thờ và trong trường hợp người tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa. Tuy nhiên, Chiên Thiên Chúa còn gợi lên một hình ảnh sau cùng. Chúng ta tìm thấy hình ảnh này trong sách Khải Huyền. Tác giả này áp dụng cho Chúa Giêsu tước hiệu "Chiên Thiên Chúa" không dưới hai mươi tám lần. Tác giả vẫn giữ lại những ghi chú về tình yêu, sự trìu mến cùng nỗi đau khổ và hy sinh, nhưng còn thêm vào đó những ghi chú về vinh quang và khải hoàn nữa. Một ví dụ rất hay về điểm này nằm nơi chương 5 của sách trong đó tác giả mô tả thị kíên của mình về con chiên ngự ở trên ngai. Con chiên được muôn dân vây quanh hát ca khen ngợi bằng bài hát sau: "Ngài đã bị giết và nhờ cái chết hy tế của Ngài, Ngài đã mua chuộc họ về cho Thiên Chúa muôn người thuộc mọi bộ lạc, mọi ngôn ngữ, mọi quốc gia và mọi chủng tộc. Ngài đã biến họ thành vương quốc tư tế để phụng sự Thiên Chúa chúng ta" (Kh 5: 9-10) Bấy giờ các thiên sứ cùng hợp với đám người vây quanh ngai. Tác giả sách Khải Huyền viết tiếp: "Tôi lại ngước nhìn và nghe tiếng các thiên thần, số thiên thần lên tới hàng ngàn triệu! Họ đứng chung quanh ngai và hát to lên: "Con Chiên bị giết đáng được lãnh nhận... Danh dự, vinh quang và tán tụng!... Tán tụng và danh dự, vinh quang và quyền năng đều thuộc về Ngài muôn đời muôn kiếp" (Kh 5: 11-13) và tất cả mọi người đứng quanh ngai hô to: "Amen". Tóm lại, tước hiệu "Chiên Thiên Chúa" gợi lên ba hình ảnh sống động: hình ảnh thứ nhất về lòng trìu mến và tình yêu đối với con chiên, hình ảnh thứ hai về nỗi khổ đau và hy sinh mà con chiên gánh chịu, hình ảnh thứ ba là vinh quang và tán tụng dành cho con chiên. Không có gì đáng ngạc nhiên khi Chúa Giêsu có rất nhiều tước hiệu như "Ánh sáng trần gian", "Mục tử nhân lành", "Bánh hằng sống"... mà chỉ có tước hiệu "Chiên Thiên Chúa" là tước hiệu duy nhất được dùng trong Thánh lễ. Chẳng hạn, ngay trước khi rước lễ, chúng ta thường hợp ca bài "Lạy Chiên Thiên Chúa". Giây phút rất đặc biệt ấy trong Thánh lễ tiên báo giây phút chung cục của thời gian, khi tất cả muôn dân hiệp cùng các thiên sứ hát lên khúc hát này dâng lên Chúa Giêsu, là Chiên vĩnh cửu của Thiên Chúa. "Ngài đã bị giết, và nhờ cái chết hy tế của Ngài, Ngài đã chuộc về cho Chúa muôn người thuộc mọi bộ lạc, mọi ngôn ngữ, mọi quốc gia, và mọi chủng tộc. Người đã biến họ thành các vương quốc tư tế để phụng sự Thiên Chúa chúng ta... Con Chiên bị giết đáng được lãnh nhận... danh dự, vinh quang và tán tụng!... Tán tụng và danh dự, vinh quang và quyền năng đều thuộc về Ngài muôn đời muôn kiếp! Amen" MÃNH HỔ VÀ CON CHIÊN Lm. Bùi Quang Tuấn, C.Ss.R. “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian”, Gioan chỉ vào Đức Giêsu và tuyên bố như thế trước mặt đoàn dân đông đảo bao quanh, ngay khi Ngài vừa xuất hiện bên bờ sông Giođan để xin thanh tẩy. Không biết phản ứng của dân chúng trước lời tuyên bố đó ra sao, ngỡ ngàng kinh ngạc hay dửng dưng hững hờ? Riêng tôi, một câu hỏi cứ mãi vang dội trong lòng: mãnh lực của ma quỉ đè nặng trên trần gian từ bao đời nay, sự tác oai tác quái của tội lỗi có khác chi “sư tử rống đang rảo quanh loài người tìm mồi cắn xé” như lời thánh Phêrô mô tả (Pr 5:8); ấy thế mà, để giải thoát mãnh lực của quỉ ma và để xoá bỏ tội lỗi cho gian trần, Gioan đã không giới thiệu một “sư tử” hùng mạnh khác hay một con vật uy dũng hơn. Đàng này, hình ảnh ông nói đến lại là “Con Chiên”. Khách quan mà nói, “Chiên” đấu với “sư tử” thì có khác gì “châu chấu đá xe”. Mất mạng, tan xác là điều khó tránh khỏi. Vậy Gioan có ý nghĩa gì khi giới thiệu Chúa Giêsu là “Chiên Thiên Chúa”? Tin Mừng đầy vẻ nghịch lý này phải được lý giải làm sao? Theo nhà chú giải Thánh kinh William Barclay, khi nói “Đây Chiên Thiên Chúa”, Gioan không thể không liên tưởng đến hình ảnh của “con chiên vượt qua” mà người Do thái nô lệ bên đất Ai cập đã sát tế, sau đó dùng máu chiên bôi lên khung cửa hầu thoát nạn. Số là trong đêm cuối cùng trước hôm dân Israel rời bỏ đất Ai cập, thần chết đã băng qua lãnh thổ và tiêu diệt tất cả mọi con trai đầu lòng, từ loài người cho đến loài vật. Riêng các con của người Do thái đã thoát chết, vì họ nghe lời Giavê mà tế sát một con chiên con, dùng máu nó bôi lên khung cửa trước nhà, và khi thấy dấu máu ấy thì thần tiêu diệt đi qua. Như vậy Gioan muốn nói với dân chúng: chính máu của Đức Giêsu cũng nên dấu xoá tội nhân gian và cứu thoát con người khỏi án chết đời đời. Thánh Phaolô, trong thơ gởi tín hữu thành Côrintô, cũng có cái nhìn như Gioan khi viết: “Vì Chiên Vượt qua của ta là Đức Kitô đã chịu tế sát. Cho nên ta hãy mừng lễ, đừng với men cũ và men gian tà ác độc, nhưng là với Bánh không men của lòng tinh tuyền chân thật” (1 Cor 5:7-8). Ngoài ra, Gioan còn là con của một tư tế chuyên lo việc đền thờ. Thế nên, chắc hẳn ông không lạ gì chuyện mỗi ngày hai phiên, một vào buổi sáng và một vào buổi chiều, hai con chiên sẽ được hoả tế để dâng lên Giavê, xin ơn xá tội cho dân (Xh 29:38-42). Công việc này được cử hành thường xuyên trong đền thờ, dù lúc ấy mùa màng thất thoát hay nạn đói hoành hành. Bao lâu đền thờ còn tồn tại bấy lâu chiên vẫn chết hai con một ngày như của lễ đền tội. Như vậy Gioan muốn khẳng định Chúa Giêsu chính là hy lễ đền tội cho nhân loại. Ngài vừa là Thượng tế, vừa là Bàn thờ, lại vừa là Con Chiên chịu sát tế để xoá tội trần gian. Ngày xưa, Giêrêmia và Isaiah đã từng tiên báo về hình ảnh Đấng Cứu thế như “con chiên hiền lành bị đem tới lò sát sinh” hay như “chiên mẹ ngậm câm không hề mở miệng”. Ngày nay Gioan muốn công bố với toàn dân rằng: Đấng mà các tiên tri loan báo thì nay đang xuất hiện trước mắt các ngươi. “Đây là Chiên Thiên Chúa. Đây Đấng xoá tội trần gian”. Như “chiên con dịu dàng” và như “chiên mẹ ngậm câm”, ấy thế mà Đức Giêsu, “Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng”, đã biến đổi thế giới, mang lại bình an, và khơi nguồn sự sống phong phú cho con người. Sức mạnh của trần gian, uy phong của đồng tiền, quyền năng của khoa học sẽ không thể xoá bỏ và giải thoát nhân loại khỏi mãnh lực của tội lỗi. Chỉ có Đức Giêsu mới làm được chuyện đó. William Bausch có một nhận xét chí lý: trước đây, chủ nghĩa cộng sản xông vào thế giới hùng bạo như con sư tử. Nó muốn giải phóng nhân loại khỏi tội nghèo đói và bất công. Biết bao hệ thống công an chìm, nổi, và tổ chức gián điệp tinh vi được dựng lên, các cơ quan kiểm soát khổng lồ và gắt gao được lập ra, súng đạn giáo mác là những vũ khí không thể thiếu trên con đường tranh đấu. Nhưng rồi “thiên đường” không thấy đâu mà tinh thần lẫn vật chất của người dân cũng bị bòn rút thê thảm. Kết quả chủ nghĩa hung bạo kia phải sụp đổ tan tành. Bên cạnh đó, chủ nghĩa hưởng thụ và cuộc cách mạng tính dục cũng hùng hổ xông vào thế giới, muốn “giải phóng” con người khỏi sự trói buộc, gò bó, khắc kỷ. Nhưng kết quả, chúng lại đẩy con người chìm sâu hơn vào hố huỷ diệt của bệnh AIDS, phá thai, ly dị, tan nát tinh thần. Thế ra, sẽ không một chủ nghĩa nào có thể giải thoát con người nếu nó không phát xuất từ Đức Giêsu Kitô, Đấng là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống. Mặc dù đó là con đường của thập giá hy sinh, là chân thành không gian dối, là bác ái vị tha đối với mọi người, nhưng đó mới chính là con đường “xoá tội trần gian” và mang lại sức sống dồi dào cho cuộc đời. Tin tưởng vào Đức Kitô, bước theo lối đường Ngài mở ra là ta đang đón nhận nguồn ơn cứu độ, cho mình và cho thế giới. Mời các bạn cùng cầu nguyện với 3 phút Thánh vịnh

Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

Xem phim : Hội Nữ Sát Thủ - Vũ Khí Khiêu Gợi - Sát Thủ Gợi Cảm



Nội dung:

Người đứng đầu tổ chức giết thuê đang làm cơ quan tình báo trung ương phải đau đầu chính là Madame M (Almen Wong). Nhưng sau khi tiêu diệt vũ khí bí mật của mình, bà phải mở cuộc tuyển chọn mới, đó là lý do tại sao, trẻ em nữ khắp nơi trên thế giới bắt đầu biến mất.

Đặc điểm chung của những bé gái này là tuổi từ 13 đến 14, giỏi thể thao, ngoại hình xinh xắn. Tất cả được bí mật đưa tới một hòn đảo, tập trung rèn luyện trong lò đào tạo sát thủ của Madame M. Ở đó, chúng học võ, luyện thể lực, làm quen với vũ khí hiện đại, trau dồi hiểu biết xã hội và học cách trở nên tàn nhẫn. Sau mỗi bài thi, số học viên giảm một nửa, cho đến vòng cuối cùng chỉ còn Jing (Jewel Li Fei), Charlene (Maggie Q) và Katherine (Anya).



Nữ sát thủ tuổi 16



Nữ sát thủ thiên nhãn



Một số phim chủ đề "sát thủ"



Nữ sát thủ yêu nước (41 tập)


Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011

Audio truyện: "Ngựa ô yêu dấu" của Anna Sewell

Ngay khi phát hành, Ngựa ô yêu dấu đã trở thành cuốn sách bestseller với hơn chục triệu bản được bán hết và dịch ra trên 35 thứ tiếng trên toàn thế giới. Và Anna Sewell là nhà văn ghi dấu ấn với một tác phẩm duy nhất.



Anna Sewell sinh ra ở Great Yarmouth, một thị trấn nhỏ bên bờ biển ở khu vực Norfolk, nước Anh. Khi còn nhỏ, Anna đã được học cưỡi ngựa và tiếp xúc với những trang viết của mẹ - Mary Wright Sewell, tác giả của cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Mother’s Last Words dành cho thiếu nhi. Điều này đã giúp cô bé Anna hiểu rõ về cuộc sống loài ngựa và bắt đầu thích thú với chuyện viết lách. Tuy nhiên, ở tuổi 51, Anna Sewell mới viết cuốn truyện đầu tiên là Ngựa ô yêu dấu (Black Beauty)-cuốn sách duy nhất trong cuộc đời bà. Để hoàn thành cuốn sách này, Anna đã phải chiến đấu với sức khỏe trong suốt 6 năm nằm liệt trên giường. Những mẩu chuyện được ghi rất vội trên giấy và sau đó mẹ của Anna đã chép lại một cách rõ ràng. Năm 1877, cuốn sách Ngựa ô yêu dấu chính thức đến tay người đọc và cũng chỉ 5 tháng sau, Anna ra đi mãi mãi…

Cuốn sách hay nhất về thế giới loài vật…

Ngay khi phát hành, Ngựa ô yêu dấu đã trở thành cuốn sách bestseller với hơn chục triệu bản được bán hết và dịch ra trên 35 thứ tiếng trên toàn thế giới. Đồng thời nó được xếp là một trong 6 cuốn sách bằng tiếng Anh bán chạy nhất vào thời điểm phát hành. Điều gì đã tạo ra sức hút đối với độc giả? Đó chính là câu chuyện được xây dựng thông qua lời kể của Black Beauty, một chú ngựa ô đẹp mã, thuần tính và rất trung thành. Khi ông chủ quyết định bán Black Beauty cũng là lúc chú phải rời khỏi cuộc sống yên ấm để bắt đầu cuộc hành trình mới.

Bằng giọng văn nhẹ nhàng, trong sáng, cách kể chuyện tự nhiên, Anna đã dẫn dắt người đọc cùng trải qua những chuyến phiêu lưu của Black Beauty từ những ngày còn thơ ấu đến khi trưởng thành, trải qua những thăng trầm, sóng gió để có hạnh phúc bình dị bên những người chủ thực sự đáng kính.

Không có những tình tiết gay cấn, hồi hộp, chỉ là sự kết nối một cách logic giữa các sự kiện xảy ra trong chuyến phiêu lưu củaBlack Beauty nhưng Ngựa ô yêu dấu vẫn làm lay động trái tim của hàng triệu người đọc với triết lý nhân văn sâu sắc về tình yêu thương giữa con người và loài vật:

"Mỗi ngày dùng nửa ký bao gồm: sự kiên nhẫn, dịu dàng, kiên quyết và âu yếm trộn với nửa lít “lương tri” – đó là liều thuốc cảm hóa các con ngựa hung dữ trở nên thuần tính, xóa bỏ mọi sợ hãi của loài ngựa…". Anna cho biết, mục đích của bà viết cuốn sách này là chỉ muốn mọi người đối xử một cách tử tế, chia sẻ và hiểu biết đối với loài vật.

Và tình yêu thương là khởi nguồn cho mọi tôn giáo 

Sự nhạy cảm và tinh tế của Anna không chỉ thay lời chú ngựa Black Beauty để nói về những mong ước được đối xử một cách tử tế mà bà đã mô tả chân thực bức tranh tổng thể về xã hội Anh với các tầng lớp, giai cấp: những nhà quý tộc hợm hĩnh hay người giám mã nhân từ Ngựa ô yêu dấu còn giúp người đọc nhận ra những ý nghĩa giá trị của cuộc sống: Hãy sống với nhau bằng lòng bao dung, sẻ chia, tình nhân ái… “Không có một thứ tôn giáo nào thiếu tình yêu thương. Người ta có thể nói rất nhiều, rất hay về tôn giáo nhưng nếu không dạy cho họ sự tử tế với con người và loài vật thì tất cả chỉ là giả dối...".

Sự thành công của cuốn Ngựa ô yêu dấu đã làm tên tuổi của Anna Sewell trở thành bất tử trong lòng độc giả. Chú ngựa Black Beauty trở nên nguồn cảm hứng sáng tác cho rất nhiều tác giả khác như: Sequel to Black Beauty của tiểu thuyết gia Gene Stratton Porter hay cuốn Son of Black Beauty của Phyllis Briggs xuất bản năm 1950, series về Black Beauty của chị em nhà Pullein-Thompson: Black Velvet, Black Piper…

Năm 2007, ngôi nhà ở Spixworth Road, Old Catton, Norfolk, nơi Anna Sewell đã cho ra đời tác phẩm Ngựa ô yêu dấu được rao bán với giá hơn 600 ngàn bảng và tên của bà đã được đặt cho một trường học tại Norfolk, trường Sewell Park College vào năm 2008. Đã hơn 100 năm trôi qua kể từ khi Anna qua đời nhưng ở Norfolk vẫn còn lưu giữ nhiều kỷ niệm liên quan đến cuộc đời của bà.

Mời các bạn xem truyện tại đây, tải về tại đây 
Nghe đọc truyện theo Sách Nói tại đây hoặc tại đây
Nghe MP3 theo các links sau:
Nghe bằng YouTube tại đây


Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2011

Phúc âm Chúa Nhật 1 TN - Lễ Chúa Giê Su Chịu Phép Rửa (09/01/2011)

Nguồn : www.40giayloichua.net Mời nghe bài giảng với chủ đề "CHÚA CHỊU PHÉP RỬA" của Linh Mục Đaminh Phạm Trọng Phúc, C.Ss.R LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA Lm.Carôlô Hồ Bạc Xái 1. Mỗi người đều có sứ mạng Hai tiếng "sứ mạng" nghe có vẻ nghiêm trọng quá. Nhưng thực ra mọi người, mọi sinh vật, mọi thụ tạo - nói chung là mọi "hiện hữu" - đều có một sứ mạng: Sứ mạng của mặt trời là sưởi ấm các sinh vật trên mặt đất Sứ mạng của cây lúa là nuôi sống con người Thậm chí những con vi sinh nhỏ bé đến nỗi mắt thường không thấy được cũng có sứ mạng làm phân huỷ những chất thải. Chúa Giêsu đã sinh ra trong trần gian với sứ mạng làm Đấng Messia mang ơn cứu độ đến cho mọi người. Ngài đã chu toàn sứ mạng ấy một cách tuyệt hảo. Mỗi người chúng ta cũng có sứ mạng. Vậy mỗi người hãy tự hỏi "Sứ mạng của tôi là gì đối với gia đình, đối với xã hội, đối với Giáo Hội, đối với anh chị em không cùng tín ngưỡng?" Tôi được sinh ra trên đời là vì sứ mạng. Nếu tôi không chu toàn sứ mạng, hay tệ hơn nữa, nếu tôi không lưu tâm gì đến sứ mạng, thì sự hiện hữu của tôi là vô ích, chỉ là ăn hại. Chúa Giêsu đã nói "Nếu muối mà nhạt thì chỉ còn ném ra ngoài cho người ta chà đạp dưới chân". 2. "Con yêu dấu" Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Qua phép rửa, chúng ta cũng trở thành con Thiên Chúa. Về phần Chúa Giêsu, Ngài đã được khen là "Con yêu dấu của Cha". Thế nào là một người "con yêu dấu"? là biết ý của cha mình: Chúa Giêsu luôn cầu nguyện để biết ý của Chúa Cha. và luôn làm theo ý cha mình: Chúa Giêsu nói "Lương thực của Ta là làm theo ý của Cha Ta". Trong vườn Cây Dầu, sau khi đơn thành tỏ cho Chúa Cha biết Ngài rất sợ chén đắng của cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu nói tiếp ngay "Nhưng xin đừng theo ý con, mà hãy theo ý Cha". Nếu chúng ta muốn trở thành con yêu dấu của Thiên Chúa thi chúng ta cũng hãy bắt chước Chúa Giêsu: luôn cầu nguyện, khi đã thấy được ý Chúa thì sẵn sàng bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa. 3. "Nếu..." Nếu tôi là dân Do Thái lúc đó, có thể tôi cũng đi từ Galilê bên Đức Giêsu suốt bốn năm ngày đường, tới sông Giođan để chịu phép rửa, mà không ngờ rằng Người là Đấng mà Gioan đang rao giảng. Khi tới nơi, chắc chắn tôi sẽ chen lấn Người để tôi được tới gần Gioan hơn. Tôi trố mắt nhìn và lắng tai. Gioan kêu gọi tôi sám hối. Tôi cảm động và rán lội tới sát Gioan. Tôi đẩy Người ra để xin Gioan rửa tôi trước, vì tôi nóng lòng mong đợi điều Gioan đang nói "Hãy dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến". Rửa xong, tôi an tâm ra về mà không ngờ Người là Đấng Cứu Thế đồng hành với tôi, đứng sát bên tôi, đã bị tôi gạt Người ra ngoài. Thực tế hàng ngày đã xảy ra trăm ngàn lần tôi cư xử như thế đối với những người bên cạnh tôi. Tôi không ngờ rằng họ là chi thể Đấng Cứu Thế. Tôi bao nhiêu lần xô lấn những người bên cạnh tôi để tôi được hơn, được trước họ mà chẳng nhớ gì lời Chúa dạy: "Con phải kính nhường và yêu mến người bên cạnh con". Thành thử ra tôi cũng không nhận ra Đấng Cứu Thế đang ở với tôi. Nếu tôi được làm địa vị của Gioan tiền hô, thì khi vừa thấy Đấng Cứu Thế, tôi sẽ tự đắc hô to: Đấy, tôi nói có sai đâu. Ngài đến đây nè... Rồi tôi kêu gọi mọi người ủng hộ Ngài, hoan hô Ngài, đón rước Ngài, xin Ngài phất cờ giải phóng dân tộc, làm cho nước ta độc lập tự do giàu mạnh, đem quân xâm chiếm các nước, trở thành bá chủ hoàn cầu. Tôi rất phàn nàn và lấy làm tiếc vì không thể ngờ được rằng Gioan không làm như tôi mong muốn. Trái lại ông đã cúi mình xuống nhỏ nhẹ thưa với Ngài rằng "Tôi không đáng cởi quai dép cho Ngài. Tôi chỉ rửa anh em trong nước, còn chính Ngài mới rửa chúng tôi trong Thánh Thần. Vậy xin Ngài rửa cho tôi đi để tôi được ơn cứu độ". Thật là con người đầy khiêm tốn, đầy tin tưởng, để rồi Gioan đã phó thác trót mạng sống mình cho Đấng Cứu Thế: dù phải chặt đầu, ông vẫn luôn quyết tâm chu toàn nghĩa vụ Thiên Chúa trao. Còn Đức Giêsu, Người rất từ tốn và ẩn mình tuyệt diệu hơn nữa. Người đã thưa lại Gioan: "Chúng ta cần phải chu toàn nghĩa vụ thánh như thế". Người đồng hóa mình với dân chúng, chịu những kẻ cậy sức mạnh xô đẩy, chèn ép để thông cảm với mọi nỗi xót xa của cuộc đời những kẻ thấp mũi bé miệng, neo đơn, cô thế cô thân. Người đã cúi mình trước Gioan làm phép rửa cho Người để cho những tội nhân biết cúi mình xuống trước tòa giải tội. Người đã dìm mình xuống nước để cứu vớt những kẻ chết trong dòng đời, cho họ được sống lại làm con chí ái với Người trong gia đình thiên quốc. Người chôn mình trong bản tính hư nát của loài người để cho con người được trường sinh vinh phúc. Lạy Chúa Giêsu xin cho chúng con biết kính nhường nhau. Đó chẳng phải là kính mến Chúa sao? Xin cho chúng con biết phó thác thân phận làm người, làm kitô hữu cho Đấng Cứu Thế. Chắc chắn chúng con sẽ được Người thanh tẩy và kết nạp chúng con vào nhà Cha chí ái trên trời. (Linh mục Vũ Khắc Nghiêm, "Xây nhà trên đá" Năm A) 4. Mảnh suy tư Thanh tẩy không chỉ là xối nước lên trán, chỉ một lần trong đời. Chúng ta được thanh tẩy bởi mọi chuyện xảy ra trong đời. Chúng ta được thanh tẩy bởi những gian truân thử thách, vì dòng nước xoáy này rửa sạch chúng ta khỏi giả dối và vô dụng. Chúng ta được thanh tẩy bởi những đau khổ, vì dòng nước âm u này giúp chúng ta khiêm tốn và biết cảm thông. Chúng ta được thanh tẩy bởi niềm vui, vì dòng nước róc rách này cho ta cảm nghiệm sự tốt lành của cuộc sống. Chúng ta được thanh tẩy bởi tình yêu, vì nhờ dòng nước líu lo này chúng ta sẽ tươi nở như cánh hoa dưới ánh mặt trời. Bí tích Thanh Tẩy giống như trồng một cây non, nó sẽ tiếp tục lớn lên suốt trọn đời ta. (Flor McCarthy) 5. Chuyện minh họa Bà già 104 tuổi sống trong một căn hộ nhỏ tại Croydon. Khi bà được 100 tuổi, một nhà truyền giáo đến thăm và giải thích cho bà nghe đoạn Tin Mừng Gioan 3,16: "Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nổi đã ban Con Một Ngài để ai tin người Con đó, thì khỏi chết và được sống đời đời". Bà đáp: "Thật là tuyệt vời. Thiên Chúa thật tốt lành khi Ngài tha thứ cho tôi đã bỏ cả trăm năm không học biết Ngài." Cuộc trở lại của bà được tạp chí London City Mission thuật lại và kết thúc bằng câu: "Sinh 1825. Sinh lại 1925." BÍ TÍCH RỬA TỘI Lm. Mark Link Vào giữa thập niên 1800 bệnh dịch cùi bùng nổ khắp các đảo Hạ Uy Di. Vào lúc đó y học vẫn còn trong thời kỳ sơ khai, hậu quả là nhà cầm quyền không cách chi có thể chữa được căn bệnh truyền nhiễm này. Để ngăn chặn sự lây lan họ phải thi hành một điều dù họ không thích, nhưng phải làm. Họ thiết lập một trung tâm người cùi trên hòn đảo Molokai xa xôi. Diễn tả về tình trạng do sự kiện này tạo nên, Robert Ellsburg viết: Người Hạ Uy Di… đau khổ vì căn bệnh này bị bắt đi ra khỏi gia đình và cộng đoàn và gửi tới đảo này… Có thể nói bệnh nhân bị quăng vào sóng biển và để họ tự bơi vào bờ, tìm chỗ tạm trú trong các hang hoặc căn lều bẩn thỉu và bám víu lấy sự sống mà họ có thể. Một linh mục trẻ tuổi người Bỉ, Cha Damien, thật bàng hoàng khi biết về số phận của các nạn nhân đáng thương này. Do đó, cha đã tình nguyện đến Molokai để giúp đỡ họ. Khi đến đảo, người tổ chức họ thành một cộng đồng. Sau đó người dựng một nhà thờ và bắt đầu giúp đỡ họ theo bất cứ phương cách nào có thể. Khi thi hành điều này, người hoàn toàn đồng hoá với họ. Người làm việc với họ, đi lại với họ, và ăn uống với họ. Người trở nên giống họ về mọi phương cách – để chia sẻ căn bệnh thảm thương của họ. Sau năm năm chăm sóc người cùi, Cha Damien cũng bị nhiễm căn bệnh đáng sợ này. Người tiếp tục chăm sóc họ thêm bốn năm nữa, trước khi căn bệnh này lấy đi sự sống của cha vào năm 1889. Gần một trăm năm sau, vào năm 1995, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên phong chân phước cho người, chuẩn bị để tuyên xưng là thánh. Câu chuyện cảm động của Cha Damien thích hợp với ngày lễ hôm nay, lễ Đức Giêsu chịu Thanh Tẩy. Để thấy sự thích hợp đó, chúng ta hãy bắt đầu bằng việc nhớ lại điều dân chúng thường hỏi: “Tại sao Đức Giêsu lại xin được thanh tẩy?” Nói cho cùng, Thánh Phaolô nói, “Phép rửa của Gioan là cho những người xa lánh tội lỗi.” CVTĐ 19:4 Nếu Đức Giêsu không có tội, tại sao Người lại xin chịu phép rửa? Ông Gioan cũng tự hỏi như thế. Khi Đức Giêsu xin được thanh tẩy, ngay lập tức ông Gioan từ chối, nói rằng: “Lẽ ra tôi phải được Ngài thanh tẩy, nhưng Ngài lại đến với tôi.” … Đức Giêsu trả lời ông, “Bây giờ hãy để xảy ra như vậy. Vì chúng ta phải thi hành những gì Thiên Chúa đòi hỏi theo phương cách này.” Chính tại đây sự thanh tẩy của Đức Giêsu có liên hệ đến câu chuyện của Cha Damien. Cha Damien đến đảo Molokai không phải vì bị bệnh cùi. Người đến đây chỉ vì muốn giúp đỡ người cùi bằng mọi phương cách có thể. Và để giúp đỡ họ bằng mọi phương cách có thể, người đã chọn đồng hoá với họ theo mọi phương cách người có thể. Người ăn uống với họ, làm việc với họ, cầu nguyện với họ, và người chịu đau khổ với họ. Theo một cách tương tự, Đức Giêsu đến thế gian không bởi vì Người là một tội nhân. Người đến để giúp các tội nhân theo mọi phương cách mà Người có thể. Và vì thế Người đồng hoá với họ theo mọi phương cách có thể - ngoại trừ tội lỗi. Đức Giêsu sống với họ, cầu nguyện với họ, ăn uống với họ, và ngay cả tự để mình chịu cám dỗ giống như họ. Do đó, thật tự nhiên khi Đức Giêsu nới rộng sự đồng hoá với con người bằng cách chịu thanh tẩy như họ. Giống như Cha Damien, Đức Giêsu đồng hoá với loài người đến độ hy sinh mạng sống mình vì họ. Điều này đưa chúng ta đến với bí tích rửa tội của chính chúng ta. Qua bí tích đó, chúng ta được tháp nhập vào Thân Thể Đức Kitô. Qua đó, chúng ta trở nên các chi thể của thân thể Đức Kitô và chia sẻ sứ vụ cứu chuộc thế gian của Người. Nói cách khác, qua bí tích rửa tội, chúng ta được mời gọi hãy sử dụng các khả năng độc đáo Chúa ban để hoạt động với Đức Kitô trong việc cứu chuộc nhân loại. Và như vậy, bí tích rửa tội là bước đầu tiên trong hành trình lớn lên trong Đức Kitô và học cách sử dụng khả năng của mình để làm việc với Người trong sự cứu độ - cũng như Cha Đamien đã sử dụng tài năng của mình cho mục đích này. Điều này nêu lên một câu hỏi quan trọng. Chúng ta lớn lên trong Đức Kitô như thế nào? Chúng ta phải chuẩn bị chính minh như thế nào để chia sẻ công việc cứu độ của Người? Thánh Phaolô trả lời câu hỏi này trong Thư gửi tín hữu Côlótsê: Vì anh chị em đã chấp nhận Đức Giêsu Kitô là Chúa, hãy sống hiệp nhất với Người. Hãy bám rễ sâu vào Người, xây dựng cuộc đời anh chị em trên Người… Vậy, anh chị em hãy mặc lấy tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hoà, và nhẫn nại. Col 2:6-7; 3:12-14 Nói cách khác, chúng ta thi hành điều này bằng cách bắt chước Đức Kitô. Chúng ta cố gắng đối xử từ bi với người khác, như Đức Kitô đã đối xử với chúng ta. Chúng ta cố gắng đối xử nhẫn nại với người khác, như Đức Kitô đã đối xử với chúng ta. Nói tóm, chúng ta cố noi gương Đức Kitô là Người đã ban sức cho chúng ta để giúp thi hành điều này bằng cách chia sẻ chính sự sống thánh thiêng của Người cho chúng ta trong bí tích rửa tội. Hãy kết thúc với một lời nguyện, xin Chúa Giêsu giúp chúng ta sống bí tích rửa tội của mình, như Người đã sống: Xin cánh tay Chúa Giêsu hãy nâng con lên khi ngã quỵ. Xin tiếng nói của Chúa Giêsu hãy dẫn đưa chúng con về nhà khi lạc lối. Xin máu Chúa Giêsu rửa chúng con sạch khi chúng con hoen ố. Xin thân thể Chúa Giêsu nuôi dưỡng chúng con khi chúng con đói khát. Xin thánh tâm Chúa Giêsu giúp chúng con kết hợp với Ngài, vì tâm hồn của chúng con được dựng nên cho Ngài, và nó sẽ không an nghỉ cho đến khi an nghỉ trong Ngài. NÊN THÁNH Lm. Bùi Quang Tuấn, C.Ss.R. Ngày nay nói đến “thánh”, người ta dễ liên tưởng đến một Cha Piô năm dấu đạo đức thánh thiện, một Giáo hoàng già rồi nhưng vẫn xông xáo trong việc quảng bá Tin mừng Phúc âm cho muôn dân, hay một Mẹ Têrêsa dấn thân chăm sóc cho những người cùng khổ. Dường như nhắc đến “thánh” là nhắc đến những khuôn mặt dấn thân, tu trì… và không thấy giáo dân đâu hết! Phải chăng làm giáo dân khó nên thánh? Không đi tu, chỉ mong “lọt” qua cửa thiên đàng là mừng, còn ngồi đâu trong đó, xa Chúa hay gần Chúa cũng được rồi chăng? Có phải vì làm giáo dân cứ phải lăn lộn với đời nên khó làm thánh? Đức Cố Hồng y Nguyễn Văn Thuận từng viết: “Giáo dân cứ nghĩ thánh là phải sốt sắng kinh nguyện, phải xa lánh thế tục, phải hãm mình hy sinh, tức là phải giống như các nhà tu thời xưa. Trong khi các tu sĩ lại nghĩ rằng thánh là phải dấn thân giúp đời, phải lăn lộn hoạt động xã hội chính trị, phải tranh đua với giáo dân mà nhập thế. Thành ra loạn xà ngầu! Giáo dân muốn sống như nhà tu, nhà tu lại muốn sống như người trần.” Không. Nên thánh không phải cứ làm theo những gì mình nghĩ hay muốn. Song, nên thánh là sống những gì Chúa muốn và Chúa dạy. Chúa muốn mưa, con muốn mưa. Chúa muốn nắng, con muốn nắng. Chúa muốn vui sướng, cực khổ, thành công, thất bại, con cũng muốn như vậy. Như thế nên thánh không phải là đạt đến giây phút được thoả mãn ý mình vì đã làm được việc này cho Chúa hay chuyện kia cho Giáo hội, nhưng là khi Chúa được như ý nơi con người của tôi, dù khi không thấy chút gì thành công. Vậy nên, những ai biết đón nhận thánh ý Chúa trong cuộc đời, biết cộng tác để thánh ý Ngài được thực thi, họ đều là thánh. Chúa Giêsu được gọi là Thầy Chí Thánh hay Đấng Cực Thánh là do đâu, nếu không phải vì Ngài đã luôn hết tâm thi hành ý Cha. Đức Giêsu từng nói đi nói lại với các môn đệ: “Ta từ trời xuống không phải để làm theo ý Ta, mà là ý của Đấng đã sai Ta” (Gn 6:38); và “Lương thực của Ta là làm theo ý Đấng đã sai Ta, và chu toàn công việc của Người” (Gn 4:34). Thi hành bổn phận của mình chính là tiến trình nên thánh chắc chắn nhất mà Lời Chúa trong ngày lễ Chúa Chịu Phép Rửa muốn nói với chúng ta. Số là trong hôm khởi đầu sứ mạng công khai, Đức Giêsu đi đến với ông Gioan Tiền hô bên sông Giođan để xin thanh tẩy. Gioan nhận ra Ngài là Đấng vô tội, là Chiên Thiên Chúa nên vội thoái thác: “Đáng lẽ Ngài phải rửa cho tôi, chứ đời thuở nào tôi lại rửa cho Ngài”. Nhưng Đức Giêsu nói với ông: “Cứ làm đi! Vì chúng ta cần chu toàn bổn phận như thế”. Đây là lời nói được ghi nhận trước nhất trong cuộc đời công khai của Đức Giêsu. Phải chăng Ngài muốn mở ra cho con người một chân trời mới: một con đường nên thánh qua việc chu toàn bổn phận Thiên Chúa trao ban. Thế thì đâu chỉ có các linh mục, tu sĩ, thừa sai, hay giáo hoàng mới có bổn phận và mới có thể làm thánh. Đúng hơn, tất cả mọi người đều có một trách nhiệm nào đó và đều có thể thánh hoá mình trong bổn phận. Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận có viết: “Người thợ nên thánh ở công xưởng, người lính nên thánh ở bộ đội, bệnh nhân nên thánh ở bệnh viện, học sinh nên thánh ở học đường, nông phu nên thánh ở ruộng rẫy, linh mục nên thánh trong mục vụ, công chức nên thánh ở công sở. Mỗi bước tiến là một bước hy sinh trong bổn phận” (Đường Hy Vọng 24). Bổn phận không chỉ gắn liền với công việc nghề nghiệp, nhưng còn với chức năng. Chức năng đó có thể là cha, mẹ, vợ, chồng, con cái, lãnh đạo, giáo dục… Không thể chỉ “mang chức” mà “từ năng” cũng như không thể chỉ có danh xưng mà nền tảng cần thiết làm nên danh xưng ấy lại không được thi hành. Mặc khác, không thể nên thánh nếu không có Chúa. Vì Ngài là Đấng Thánh. Muốn nên thánh là phải đón nhận Chúa làm tâm điểm cuộc sống, để rồi nhờ Ngài, với Ngài, và trong Ngài, con người chu toàn và được tác thánh qua bổn phận của mình. Có một điểm rất đáng ghi nhận từ Thánh Kinh: trong suốt quảng đời thi hành ý Cha trao phó, Đức Giêsu không ngừng gắn bó với Cha qua việc nguyện cầu. Ngài liên lỉ cầu nguyện: trong gia đình, nơi đền thánh, trên đường đi, chốn sa mạc, trong rừng vắng…. Ngài cầu nguyện ban ngày lẫn ban đêm, lúc vui cũng như khi buồn, trước phép lạ lẫn sau khi giảng dạy. Thậm chí còn cầu nguyện ngay trước lúc tắt thở: “Mọi sự đã hoàn tất” (Gn 19:30), “Lạy Cha, Con phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46). Với sức mạnh Chúa ban qua lời cầu nguyện, con người chắc chắn sẽ đi đến đích cùng của bổn phận hằng ngày và cả đời. Nếu khi màn chiều buông xuống hay lúc ngày đời chấm dứt, tôi cất lên được lời nguyện cuối cùng của Chúa Giêsu- “Mọi sự đã hoàn tất, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”- thì tuyệt vời và hạnh phúc cho tôi biết bao. Mời các bạn cùng cầu nguyện với 3 phút Thánh vịnh