Chào mừng bạn đến với Gia Đình Duy Duy - Chúc bạn vui vẻ và hạnh phúc !

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2012

Nghe audio truyện dã sử TQ : "Nhạc Phi Diễn Nghĩa" - Nguyễn Chánh Sắt



Tác phẩm : Nhạc Phi Diễn Nghĩa
Dịch giả : Nguyễn Chánh Sắt
Người đọc: Thanh Nguyệt


Bộ truyện Nhạc Phi thuộc loại sử truyền, được chép và lưu hành vào đời nhà Thanh, nhưng nội dung chuyên lại xảy ra vào đời nhà Tống, cách đấy hơn nửa thế kỷ. Đó là thời kỳ suy vong của dân tộc Hán (Trung quốc).

Nhạc Phi một áng văn đề cao tinh thần anh hùng cứu quốc mà người Trung Hoa rất sùng bái. Tiêu biểu là người anh hùng dân tộc Nhạc Phi, nhân vật chính trong truyện. (sau này được dân chúng tạc tương và thờ ngang hàng với Đức Khổng Tử), vì thế Nhạc Phi truyện có một giá trị tinh thần rất cao trong tâm trí người Trung Hoa. Đối lập với người anh hùng Nhạc Phi là Tần Cối, một đại gian thần bán nước cầu vinh, nguy hiểm nhất mà người Trung Hoa vô cùng căm ghét và khinh bỉ. .

Triều Tống thời các vua Huy Tông, Khâm Tông, Cao Tông là triều đình đốn mạt, nhân dân bị đàn áp điêu đứng, trong khi đó lại cúi đầu chịu sự thống trị của nước Kim, một phiên quốc ở phương Bắc, bị chúng coi như nô lê. Vua Khâm Tông chẳng khác gì một tên tay sai, triều thần toàn kẻ vô dụng thối nát, cúi đầu nhục nhã trước ngoại bang, đến mức để chúng bắt một lúc cả hai vua Tống sang giam cầm ở sa mạc nước Kim.

Bao lần quần chúng nổi dậy chống xâm lăng đều bị triều đình đàn áp thẳng tay, nên đất nước mới đầy rẫy những Sơn vương, thảo khấu, xưng hùng xưng bá. Người anh hùng Nhạc Phi đã đứng ra cứu nước, tập hợp được quần chúng. thu phục mọi nhân tài, đã đánh cho quân Kim thất bại nặng nề.

Song Cao Tông lại tôn sùng Tần Cối, nghe lời y xúc xiểm, tạo ra vụ án giả, giết hại một cách hèn hạ người anh hùng dân tộc Nhạc Phi và biết bao vị trung thần ái quốc khác. Thực ra thủ phạm chính trong vụ oan án này là vua Cao Tông, Tần Cối chỉ là công cụ của ông vua bất nhân, bất nghĩa này.

Tài năng, uy tín và lòng ngưỡng mộ của nhân dân đối với Nhạc PHi đã làm Cao Tông lo ngại cho chiếc ngai vàng đang ngồi vì thế Cao Tông qua tay Tần Cối, đã giết hại vị đại công thần Nhạc Phi để trừ hậu họa.

Bộ truyện Nhạc Phi nhằm đề cao lòng yêu nước của người dân Trung Hoa, đồng thời cũng bóc trần bộ mặt thật của các triều đại phong kiến thối nát, ươn hèn. Cũng như nhiều bộ sử Trung Quốc lúc ấy, Nhạc Phi cũng có nhiều yếu tố thần thoại, mê tính được lưu truyền, người đời sau sưu tập, tu chỉnh thành bộ truyện mạch lạc.

Tuy nhiên, điều đó không làm mất đi giá trị nhân văn của tác phẩm, mà càng làm cho ta thấy rõ chế độ khắc nghiệt của triều đại phong kiến Trung Quốc, cố tình bưng bí sư thật, trấn áp tiếng nói chân chính của nhân dân. Để lên án những ông vua tham tàn, bất công thời đó, tất nhiên tác giả phải dùng các yếu tố thần thoại để che mắt vua quan, và cũng để dễ dàng châm biếm, đả kích bọn chúng.

Nhạc Phi truyền kỳ được chép và lưu hành vào cuối đời Mãn Thanh đã gián tiếp lên án triều đình đương thời. Tuy cách xa nhau hơn nửa thế kỷ, nhưng hai triều đại Tống - Mãn này có những nét tương đồng, cũng (vua tối, tôi gian, cung phụng ngoại bang, đàn áp dân chúng". Lấy chuyện xưa để nói chuyện nay, truyện Nhạc Phi đã gửi một thông điệp yêu nước tới nhân dân Trung Quốc lúc đó. Nhạc Phi đã phần nào làm thỏa mãn lòng yêu nước chân chính của nhân dân, nên nó vẫn là một bộ truyện có giá trị

Mời các bạn xem truyện "Nhạc Phi Diễn Nghĩa" tại đây, tải về tại đây

Mời các bạn nghe audio truyện "Nhạc Phi Diễn Nghĩa", tải về theo MediaFire tại đây :


Nghe theo YouTube tại đây




Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012

Phúc Âm Lễ Chúa Nhật Phục Sinh (ngày 08/04/2012)



Lời Chúa trong Thánh Lễ Chúa Nhật Lễ Phục Sinh :


Nguồn : www.40giayloichua.net

Mời nghe bài giảng chủ đề : "Câu Chuyện Phục Sinh " của Linh Mục Giu Se Nguyễn Văn Thái.



CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI
Lm.Carôlô Hồ Bạc Xái

* 1. Hai cách nhìn

Trước ngôi mồ trống của Ðức Giêsu, có hai cái nhìn, dẫn đến hai cái thấy khác nhau:

- Cái nhìn của bà Maria Magdala là cái nhìn tự nhiên, bị ảnh hưởng bởi tình cảm: chỉ mới nhìn tảng đá đã lăn khỏi mộ, tình cảm của bà bị tác động ngay khiến bà không còn thấy thêm điều gì khác mà chỉ nghĩ đến tình huống xấu nhất: "Người ta đã đem Chúa ra khỏi mộ!" Cái nhìn tình cảm này không giúp thấy được sự thật mà chỉ làm cho bà buồn rầu, lo lắng, khóc lóc.

- Cái nhìn của người môn đệ Chúa yêu được đức tin hướng dẫn: Ông nghe nói tảng đá đã lăn khỏi mộ, ông chạy đến nơi để xem và xem xét rất kỹ. Ông cúi xuống nhìn vào trong, quan sát những tấm khăn liệm và dừng lại để suy nghĩ. Rồi ông nhớ lại những lời Thánh Kinh mà Ðức Giêsu đã dạy. Cái nhìn này giúp ông thấy được sự thật: Ðức Giêsu đã sống lại. Cái nhìn đức tin này đem lại cho ông niềm vui: "Ông đã thấy và đã tin".

*

Có thể so sánh cái nhìn đức tin giống như người ta nhìn các sự vật trong đêm tối bằng ánh sáng của tia hồng ngoại, nên có thể thấy được những điều mà mắt thường không trông thấy.

Theo định nghĩa, "Tín hữu" là người tin. Vì thế tín hữu vừa có cái nhìn tự nhiên như mọi người, vừa phải có cái nhìn đức tin. Ai biết nhìn sự việc bằng đức tin thì sẽ thấy mọi sự rất thanh thản và lạc quan.

Chẳng hạn Thánh Phaolô trong lúc đang ngồi tù và sắp bị đem ra xử, ông nghĩ đến hai tình huống có thể xảy ra: một là bị xử tử, hai là được tự do. Bằng cái nhìn đức tin, ông đã thấy sống hay chết đều tốt cả: "Ðối với tôi, sống là Ðức Kitô và chết là một mối lợi" (Pl 1,21). Còn thánh nữ Têrêxa Hài Ðồng Giêsu sau khi đã nhìn lại mọi sự việc xảy đến trong đời mình bằng cặp mắt đức tin, đã kết luận "Tất cả là hồng ân".

Ðức Giêsu phục sinh đã chiếu một luồng sáng mới lên tất cả mọi sự. Thiết tưởng, việc đầu tiên mà chúng ta cần cố gắng và cũng là ơn đầu tiên mà chúng ta cần xin trong mùa Phục sinh là biết nhìn mọi sự bằng cặp mắt đức tin. Có như thế, trong tất cả mọi sự chúng ta mới đều có thể lạc quan cất lên tiếng hát đặc trưng của Mùa Phụng vụ này: Halleluia!

* 2. Tin là thế nào?

Ðức tin của các tín hữu thường chỉ có một chiều kích, đó là chiều kích của trí óc: tin có Thiên Chúa ; tin rằng Ngài đã tạo dựng mọi sự, Ngài biết mọi sự và điều hành mọi sự.

Ðức tin của các tín hữu thường hướng tới đời sau: tin rằng mình sẽ được ở với Thiên Chúa sau khi từ giã cõi đời này.

Lời Chúa trong Thánh lễ hôm nay buộc ta phải điều chỉnh lại đức tin ấy: phải có thêm chiều kích hiện sinh nữa: Không chỉ tin bằng trí óc mà còn bằng cả cuộc sống. Không chỉ nhắm tới cuộc sống mai sau, mà phải nghĩ tới cuộc sống hiện tại. Thánh Phaolô dạy: "Sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Ðức Kitô".

* 3. Làm chứng là thế nào?

Chỉ có các tông đồ là những "chứng nhân" đúng nghĩa: các ngài đã cùng sống với Ðức Giêsu, đã thấy Ngài chết và thấy Ngài sống lại. Việc làm chứng của các ngài dựa trên điều các ngài đã thấy.

Nhưng lời chứng xuất phát từ cảm nghiệm cũng có giá trị, nhiều khi lại còn có sức thuyết phục hơn. Chúng ta có thể làm chứng cho Ðức Giêsu phục sinh theo cách thứ hai này: sống làm sao cho người ta biết chúng ta đang sống một cuộc sống mới, chúng ta hạnh phúc, chúng ta tự do, chúng ta vui mừng trong cuộc sống mới đó, và trong bất cứ hoàn cảnh nào lòng chúng ta cũng tràn trề hy vọng.

* 4. Tâm thức kiêu căng của kẻ chiến thắng

Nhiều người trách rằng những người công giáo có tâm thức kiêu căng vì nghĩ rằng mình là kẻ chiến thắng, kẻ mạnh, kẻ giỏi hơn người... Tiếng pháp là "triomphalisme". Thực ra, chúng ta có tâm thức đó không? Và xét cho cùng, nên có tâm thức đó không?

Chúng ta xác tín rằng chúng ta có một chỗ dựa vô cùng vững chắc là Ðức Giêsu phục sinh, và cũng xác tín rằng nếu có Ngài phù trợ thì chúng ta sẽ vượt thắng tất cả. Những câu đáp ca hôm nay trích từ Thánh vịnh 117 tuyên bố niềm xác tín đó: "Tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa cao cả vô song. Tôi không phải chết nhưng còn sống mãi, để tường thuật những kỳ công Chúa làm".

Thế nhưng, chúng ta không nên kiêu căng, cũng không nên khinh chê những người khác không có được niềm xác tín của chúng ta. Ðúng hơn, chúng ta cần làm chứng cho họ và chia xẻ với họ niềm xác tín ấy, một niềm xác tín vẫn giúp con người lạc quan hy vọng cho dù đang ở giữa bao khổ đau, thất bại, bệnh tật và thậm chí sắp chết.

* 5. Mộ mở toang

Gioan "cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó... Ông đã thấy và đã tin. "

Nhưng ông thấy gì? Chẳng thấy gì hết. Có gì đâu mà thấy. Tuy vậy điều ông thấy đã dẫn ông tới chỗ tin.

Ta hãy nghiêng mình xuống như Gioan. Ta thấy gì? Một hố sâu thăm thẳm, đầy màu trắng. Một sự trống rỗng mênh mông dâng đầy mầm sống. Cờ tang khăn tang chuyển biến thành y phục ánh sáng. Một sự vắng mặt vang dội sự có mặt. Một sự im lặng của nấm mồ nói nhiều hơn mọi bài diễn văn. Một bức tường mà ta chỉ thấy được phần bị khoét lỗ. Một kết quả của tất cả mang dáng dấp khởi đầu. Một cái chết có bộ mặt một cuộc giáng sinh. Mầu nhiệm mà ta khám phá ra bí mật.

Vậy ai đã tạo ra ngôi mộ trống. Ngôi mộ đâu có trống. Vì Gioan đã thấy chân dung thực sự của Ðức Giêsu, bạn ngài.

Ngôi mộ không trống, không sâu, không câm nín, không vương mùi chết chóc. Ngôi mộ nói. Nó sẽ nói. Hôm nay nó còn nói với ta. Ta có bị cụt hứng không? Vì sự vắng mặt này, lớn như một nấm mồ, chính là một sự hiện diện, vĩ đại như một phép lạ.

Dưới nhãn quan của não trạng hiện đại, đã thấm nhiễm vào ta, chết là hết. Chấm hết. Chết rồi chẳng còn gì ráo. Chẳng còn gì ngoài đêm đen. Chẳng còn gì ngoài trống rỗng và hư vô. Cái chết khép lại tất cả. Cái chết chôn kín đời ta.

Nhưng ở đây cái chết mở ra. Ngôi mộ của Người đã mở ra. Mở ra một mầu nhiệm lớn lao. Một mầu nhiệm loan báo sự sống. Mầu nhiệm mang tên chỗi dậy. Phục sinh.

Ngôi mộ mở lòng mở trí ta. Ký ức sống và sống lại. Ta mở hồn ra với đức tin. Sau cùng ta hiểu rằng Ðức Giêsu đã vượt qua bức tường sự chết, đã nâng phiến đá che mộ, đã hoàn thành Phục sinh báo trước. (G. Boucher, "Le ciel sur terre", được trích trong Fiches dominicales, năm A, trang 122-123).

* 6. Tin mừng Phục sinh

Bà Regina Riley hằng cầu nguyện cho hai cậu con trai đã xa rời đức tin nhiều năm. Bỗng một sáng Chúa Nhật, bà không thể tin vào mắt mình, hai đứa con bước vào nhà thờ ngồi ghế đối diện với bà. Tan lễ, bà liền hỏi lý do nào khiến các con trở về với Chúa. Ðứa con nhỏ mau mắn kể lại:

Thời gian nghỉ hè tại Colorado, vào một sáng Chúa Nhật, chúng con đang lái xe thả dốc trong cơn mưa tầm tã. Bỗng nhiên, một cụ già không dù che, người ướt sũng đang vội vã bước đi, dáng điệu khập khiễng. Chúng con dừng lại mời cụ lên xe, mới được biết cụ đang đi lễ, đến một nhà thờ cách đó 5 cây số. Chúng con liền đưa cụ đến dự lễ. Nhưng vì trời vẫn mưa nên hai anh em quyết định vào xem lễ rồi cùng đón cụ về. Lạ thay, sau khi lắng nghe Lời Chúa chúng con rất xúc động, tâm hồn như được đổi mới hoàn toàn. Mẹ biết không, lúc bấy giờ chúng con như được trở về nhà sau một chuyến đi dài đầy mệt mỏi.

*

Câu chuyện hai anh em gặp gỡ cụ già xa lạ sẽ minh họa cho chúng ta bài Tin mừng Phục sinh hôm nay.

Bà Maria Macđala, bà Maria mẹ ông Giacôbê, và bà Salômê là ba phụ nữ nhân đức từng theo giúp Ðức Giêsu và các môn đệ. Các bà đã từng được Thầy Giêsu dạy dỗ, yêu thương. Nhưng giông tố kinh hoàng của chiều thứ Sáu Tuần Thánh đã cướp đi người Thầy rất đáng kính yêu của họ. Giờ đây, Thầy đã nằm yên trong mộ đá. Còn lại gì? hay chỉ còn bao kỷ niệm thân thương và nước mắt. Ðể vơi đi nỗi sầu, các bà chỉ biết mua dầu thơm về ướp xác Thầy. Nhưng "Ai sẽ lăn dùm tảng đá ra cho chúng ta?" (Mc.16,3).

Kinh ngạc thay, khi đến nơi, các bà đã thấy tảng đá được lăn ra một bên, và xác Thầy cũng không còn nữa. Chỉ còn đó sứ thần chờ để loan báo Tin mừng: "Ðấng bị đóng đinh đã sống lại rồi, Người hẹn gặp lại các môn đệ tại Galilê" (x. Mc.16,7). Từ ngôi mộ trống, nơi tối tăm và chết chóc, sự sống đã bừng lên.

Hai anh em trong câu chuyện trên cũng đã một thời tin theo Chúa. Nhưng giông tố của thời niên thiếu đến, đã cướp đi bao kỷ niệm đạo đức thuở ấu thơ. Thế rồi, cụ già đã xuất hiện loan báo một Tin mừng, không phải bằng lời mà bằng gương sáng đạo đức: "Thầy Giêsu hẹn gặp lại các con nơi thánh đường".

Tin mừng chính là: Hễ có giông tố của chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, thì cũng có bình an của sáng Chúa Nhật Phục sinh.

Tin mừng chính là: Hễ có bình an là có niềm hy vọng, có trở về và có đổi mới.

Tin mừng chính là: Nếu ta cùng chết với Ðức Kitô, ta sẽ cùng được sống lại với Người.

Tin mừng chính là: Nếu có tình yêu quằn quại trên thập giá, thì cũng có tình yêu rạng rỡ sáng Phục sinh.

*

Lạy Chúa ! Xin cho chúng con, luôn xác tín rằng:

Mỗi lần chúng con trở về sau những lầm lỗi, là chúng con đang phục sinh với Chúa.

Mỗi lần chúng con tin tưởng sau những lần phản bội niềm tin, là chúng con đang sống lại với Người.

Mỗi lần chúng con tiếp tục cố gắng sau những lần thất bại đắng cay, là chúng con đang ra khỏi mồ trống.

Xin giúp chúng con biết mở rộng tâm hồn để đón nhận ân sủng Phục sinh của Chúa. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

Thánh Ca : Chén Đắng


SỰ BIẾN ĐỔI KỲ DIỆU!
Cha Mark Link, S.J.

Ernest Gordon có viết một quyển sách tựa đề Through the Valley of the Kwai River (Ngang Qua Thung Lũng Sông Kwai), trong đó ông trích dẫn một chuyện có thật xảy ra tại một trại tù binh Nhật dọc bờ sông Kwai trong thế chiến II. Nhiều người trong chúng ta đã nghe nói về trại này trong cuốn phim Bridge Over the River Kwai (Cầu Sông Kwai). Nơi đây 12 ngàn tù binh đã chết vì bệnh tật và bị đối xử tàn tệ khi họ phải xây một tuyến đường xe lửa.

Đàn ông bị cưỡng bức lao động dưới cái nóng đôi khi lên đến 120 độ F (khoảng 49 độ C). Đầu trần, chân đất, họ vác từng thúng đá trên vai để xây cho xong toàn bộ tuyến đường. Họ chỉ mặc mỗi manh áo rách và nằm ngủ trên mặt đất không chăn chiếu.

Nhưng kẻ thù khủng khiếp nhất đối với họ không phải là lính Nhật hay cuộc sống gian khổ mà lại là chính họ.

Theo lời kể của Gordon, vì quá sợ lính Nhật, nên các tù binh đã bị mắc chứng hoang tưởng. Họ lấy luật rừng cư xử với nhau. Họ trộm cắp của nhau, nghi ngờ nhau và chỉ điểm lẫn nhau.

Bọn canh gác cười nhạo khi thấy những người lính da trắng từng kiêu hãnh biết bao giờ đây đang tiêu diệt lẫn nhau.

Thế rồi một điều khó tin đã xảy ra. Hai tù nhân nọ chia nhóm học hỏi Kinh Thánh cho các tù nhân khác.

Qua việc học hỏi này, dần dà các tù nhân khám phá ra Chúa Giêsu là một người đang sống giữa họ.

Hơn nữa, họ còn khám phá được rằng Chúa Giêsu hiểu rõ hoàn cảnh của ho. Người cũng không có chỗ gối đầu vào bên đêm. Người cũng đói khát, trơ trụi. Người cũng bị phản bội, cũng nếm roi đòn trên lưng.

Tất cả những gì về Chúa Giêsu--Người là gì, Người nói gì, Người làm gì--bắt đầu có ý nghĩa và trở nên sống động.

Các tù nhân không còn cho rằng họ là nạn nhân của một tấn bi kịch độc ác nào đó. Họ không còn chỉ điểm. Họ không còn tiêu diệt lẫn nhau nữa.

Sự thay đổi tâm hồn của họ được tỏ lộ không đâu rõ rệt cho bằng trong lời cầu nguyện.

Họ bắt đầu cầu nguyện cho nhau nhiều hơn cho chính mình. Và nếu có cầu xin cho chính họ, thì họ chẳng xin cho được điều gì. Mà xin cho sức mạnh mới mẻ trong tâm hồn của họ được bộc lộ.

Dần dà, cả trại đã được biến đổi, đến nỗi không phải chỉ đám lính Nhật mà cả các tù binh cũng phải ngạc nhiên.

Một đêm nọ, sau khi gặp gỡ với nhóm học hỏi Kinh Thánh xong, Gordon khập khiễng bước về trại của mình. Đang lúc lần mò trong bóng đêm, ông bỗng nghe có tiếng nhiều người ca hát, có người dùng mảnh gỗ để gõ nhịp vào loong thiếc.

Tiếng ca hát và tiếng gõ nhịp làm cho bóng đêm trở nên sống động. Sự khác biệt giữa tiếng hát vui tươi lúc đó và cái yên lặng chết chóc của những tháng qua là sự khác biệt giữa sự sống và sự chết-sự khác biệt giữa sự chết và sự phục sinh.

Câu chuyện về sự biến đổi trong trại tù của Nhật là một minh họa tuyệt vời cho lễ Phục Sinh hôm nay.

Phục Sinh là phép lạ làm cho các tù nhân tin tưởng lẫn nhau sau khi đã nghi ngờ nhau.

Phục Sinh là phép lạ giúp họ biết chia sẻ với nhau thay vì chỉ biết bóc lột nhau.

Phục Sinh là phép lạ khiến họ biết giúp đỡ nhau thay vì chỉ tìm cách tố cáo nhau.

Và điều đó đã quy tụ chúng ta lại nơi giáo đường này trong buổi sáng Phục Sinh đẹp trời hôm nay. Đối với chúng ta, Phục Sinh là gì?

Phục Sinh là sự nhận thức rằng sự biến đổi đời sống nơi các tù nhân kia cũng có thể xảy ra trong chính cuộc sống chúng ta.

Phục Sinh là sự nhận thức rằng sự thay đổi nơi trại tù binh nọ cũng có thể xảy ra trong thế giới chúng ta.

Tất cả những gì chúng ta cần là điều mà các tù nhân ấy đã thi hành.

Tất cả những gì chúng ta cần là mở rộng tâm hồn để đón nhận các ơn sủng mà Chúa đã chiến thắng cho chúng ta vào dịp Phục Sinh cách đây 2000 năm.

Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô, tin mừng Phục Sinh là không gì có thể chế ngự chúng ta được nữa--dù là sự ngã lòng, sự bất hạnh, sự ruồng bỏ, sự đớn đau và kể sự chết.

Tin Mừng Phục Sinh là chúng ta không cần phải đợi đến khi chết mới được tham dự vào quyền năng phục sinh. Chúng ta có thể bắt đầu thi hành điều ấy ngay tự bây giờ.

Như thế, Phục Sinh mời gọi chúng ta mở rộng tâm hồn cho Chúa Giêsu Phục Sinh để Người làm cho chúng ta điều mà Người đã làm cho các tù binh trong trại tù của Nhật.

Phục Sinh mời gọi chúng ta hãy để Chúa giúp chúng ta tin tưởng lẫn nhau sau khi phản bội nhau.

Phục Sinh mời gọi chúng ta hãy để Chúa giúp chúng ta yêu thương nhau sau khi đã khước từ tình yêu của nhau.

Phục Sinh mời gọi chúng ta hãy để Chúa giúp chúng ta lấy lại hy vọng sau khi chúng ta đã làm hy vọng ấy tan thành từng mảnh.

Phục Sinh mời gọi chúng ta hãy để Chúa giúp chúng ta nhặt lại những mảnh vỡ ấy và bắt đầu lại sau khi chúng ta đã sẵn sàng bỏ cuộc.

Đây là tất cả ý nghĩa của Phục Sinh.

Đó là một tin vui cho biết Chúa Giêsu Phục Sinh đang ở giữa chúng ta, ngay trong thánh đường này, vào buổi sáng hôm nay.

Đó là một tin vui cho biết Chúa Giêsu đã chiến thắng sự dữ, sự chết và chúng ta cũng sẽ như vậy, nếu chúng ta mở rộng tâm hồn cho Người.

Đó là một tin vui cho biết Chúa Giêsu sẵn sàng làm phép lạ cho chúng ta, nếu chúng ta để cho Người thi hành.

Đó là một tin vui cho biết không gì có thể tiêu diệt được chúng ta, dù là đau đớn, ưu phiền, bị chối từ, tội lỗi và ngay cả sự chết.

Tóm lại, đó chính là tất cả những gì mà Phục Sinh mang lại cho chúng ta. Và đó chính là điều mà chúng ta hân hoan cử hành khi cùng nhau chuẩn bị bẻ bánh nhân ngày khai sinh đức tin Kitô Giáo của chúng ta hôm nay./.

Thánh Ca : Tình Ca Tri Ân

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

Nghe audio truyện kiếm hiệp: "Anh Hùng Vô Lệ" - Cổ Long



Giọng ca của ca nữ, điệu múa của vũ giả, kiếm của kiếm khách, bút của văn nhân, đấu chí của anh hùng, một khi chưa chết, đều không thể buông tay, bởi vậy mà một bản trường ca hoành hoành tráng tráng của những anh hùng hiệp khách, đã được tấu lên bởi nhiệt huyết giang hồ, với những tranh đấu khốc liệt phi thường, hấp dẫn phi thường, tạo thành tuyệt phẩm

Tác phẩm : Anh Hùng Vô Lệ
Dịch giả : Cổ Long
Người đọc: Bạch Long


Một tòa núi cao, một vách nham thạch, một dòng suối trong, một cây cổ tùng, một lò lửa đỏ, một bình trà xanh, một lão nhân, một thiếu niên.

"Vũ khí đáng sợ nhất trong thiên hạ là gì ?" Thiếu niên hỏi lão nhân:

"Có phải là Tiểu Lý Phi Đao lệ bất hư phát ?" - Trước đây có lẽ là vậy, hiện tại lại không phải.

- Tại sao ?

"Bởi vì từ khi Tiểu Lý Thám Hoa qua đời, thứ vũ khí đó đã thành âm hưởng". Lão nhân thở dài ảm đạm:

"Từ nay về sau, trên thế gian cũng không thể có thứ người như Tiểu Lý Thám Hoa nữa, cũng không thể có thứ vũ khí như Tiểu Lý Phi Đao nữa".

Thiếu niên ngẩng mặt nhìn núi cao, đỉnh núi mây trắng phất phưởng.

"Hiện tại vũ khí nào là đáng sợ nhất trên thế gian ?" Thiếu niên lại hỏi lão nhân:

"Có phải là Lam Sơn Cổ Kiếm của Lam Đại tiên sinh ?" - Không phải.

- Có phải là Đại Thiết Chùy của Nam Hải Thần Lực Vương ?

- Không phải.

- Có phải là Bạch Ngân Thương của Quan Độc Lạc Nhật đại tổng quản Mã Trường Bằng ?

- Không phải.

- Có phải là Phi Tinh Dẫn Nguyệt Đao ba năm trước trên cổ đạo ở Hàm Đan khinh kỵ tru bát khấu ?

- Không phải.

"Tôi nghĩ ra rồi". Thiếu niên nói một cách cực kỳ chắc chắn:

"Là Ly Biệt Câu của Dương Tranh, nhất định là Ly Biệt Câu của Dương Tranh".

"Cũng không phải". Lão nhân thốt:

"Những thứ vũ khí ngươi kể tên tuy đều rất đáng sợ, lại không phải là thứ đáng sợ nhất".

- Thứ đáng sợ nhất là gì ?

- Là một cái hòm.

"Một cái hòm ?" Thiếu niên cực kỳ kinh ngạc:

"Vũ khí đáng sợ nhất trong đương kim thiên hạ là một cái hòm ?"

- Phải.

Mời các bạn xem truyện "Anh Hùng Vô Lệ" tại đây hoặc tại đây

Mời các bạn nghe audio truyện "Anh Hùng Vô Lệ" theo YouTube tại đây 



Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

Cảnh Báo Nghiêm Trọng Khi Sử Dụng Điện Thoại Di Động



Một vài ngày trước, một anh thanh niên đang sạc pin cho điện thoại di động của mình tại nhà.

Đúng vào vào thời điểm đó, có một cuộc gọi đến và anh đã trả lời , trong khi công cụ sạc pin vẫn còn kết nối với ổ cắm điện .

Sau một vài giây , dòng điện làm nổ điện thoại di động và ném anh ngã vật xuống sàn nhà với một tiếng uỵch thật lớn . Như bạn đã thấy, điện thoại di động đã phát nổ và làm cháy cả màn gối.

Cha mẹ của anh chạy vào phòng chỉ thấy anh nằm bất tỉnh, thoi thóp thở và các ngón tay thì bị cháy sém.

Cha mẹ lập tức đưa anh đến bệnh viện gần đó, nhưng anh đã chết trên đường đi đến bệnh viện.

Điện thoại di động là phát minh hiện đại , rất hữu ích. Tuy nhiên, chúng ta phải nhận thức rằng : nó cũng có thể là một công cụ của thần chết !

Không bao giờ sử dụng điện thoại di động trong khi nó được nối với ổ điện! Nếu bạn đang sạc pin điện thoại di động và có cuộc gọi đến, rút ​​phích cắm bộ sạc ra khỏi ổ cắm điện rồi mới nghe cuộc gọi đến .

Cho dù bạn có nghe hoặc không nghe một cuộc gọi đến từ điện thoại di động. Họ cũng có thể thông báo cho những người khác để liên lạc với bạn ...





Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Nghe đọc audio book : Đêm Tối Và Ánh Sáng - Torey Hayden



Đêm tối và ánh sáng là câu chuyện cảm động về hành trình của hy vọng, lòng can đảm, sự cống hiến vô điều kiện và tình yêu thương bao la. Đêm tối và ánh sáng chứng minh cho ta thấy tình yêu và sự kiên cường đã làm nên điều kỳ diệu trong cuộc sống.

Tác phẩm : Đêm Tối Và Ánh Sáng
Tác giả : Torey Hayden
Người đọc: Ái Hòa - Phú Lộc


Torey Hayden tên đầy đủ là Victoria Lynn Hayden, sinh năm 1951 tại livingston, Mỹ. Bà là nhà tâm lý học chuyên tiếp xúc và giúp đỡ các trẻ em bị khiếm khuyết về tâm thần, giáo viên phụ trách giảng dạy các chương trình đặc biệt, giảng viên đại học và là tác giả của những câu chuyện có thật được viết dực trên những trải nghiệm từ cuộc sống thực cũng như quá trình làm việc của bà

Sách là câu chuyện có thật về một bé gái bị chính mẹ ruột bỏ rơi trên đường cao tốc khi vừa mới bốn tuổi. Sống sót sau những biến động kinh hoàng, cô bé đã không bao giờ nói, cũng chẳng bao giờ cười. Sau khi thiêu sống một đứa bé hàng xóm bất thành, cô bé được đưa vào một lớp học dành cho những trẻ em bị thiểu năng nghiêm trọng.

Mọi người đều nghĩ rằng không cách nào cứu được Sheila ra khỏi khoảng đời tăm tối đó, ngoại trừ cô Torey Hayden. Bằng sự kiên nhẫn, kỹ năng của một nhà giáo và trên hết là một tình yêu kiên định, cô đã chiến đấu bền bỉ để giúp đứa bé thoát khỏi những nỗi ám ảnh ác nghiệt.

Thời gian đầu khi Sheila đến với lớp học đặc biệt ấy, cô Torey đã rất vất vã để em có thể hòa nhập với các bạn cùng lớp. Ban đầu, lớp học ấy có tám đứa trẻ với hoàn cảnh khác nhau. Đó là Peter - bị co giật nghiêm trọng và thường xuyên có những hành vi bạo lực; Tyler - cô bé tám tuổi nhưng đã hai lần tự sát; Max - bé trai sáu tuổi mắc chứng tự kỷ bẩm sinh,không ngừng la khóc, vừa kêu quàng quạc vừa vỗ tay lượn vòng khắp phòng; Freddie - bảy tuổi cũng mắc chứng tự kỷ.

Còn Sarah - chỉ mới bảy tuổi nhưng đã là nạn nhân của nạn lạm dụng thể xác mà thủ phạm chính là người cha ruột. Thêm một Susannah - bị tâm thần phân liệt từ nhỏ; William bị ám ảnh bởi nỗi sợ nước, bóng tối, xe ôtô, máy hút bụi và cả bụi dưới gầm giường; Guillermo khiếm thị với những hành vi hung hăng bất thường. Và cuối cùng căn phòng chật hẹp ấy còn có thêm Sheila hoang dại. .

Thường thì những đứa trẻ như thế chẳng còn chút hy vọng nào để hòa nhập với cuộc sống bình thường. Nhưng điều đó không ngăn cản Torey làm nên điều kỳ diệu.

Sách của tác giả Torey Hayden, do First News thực hiện, nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM phát hành, TTO chuyển thể sang sách nói với giọng đọc của Ái Hòa - Phú Lộc.

Mời các bạn nghe audio book "Đêm Tối Và Ánh Sáng", nghe theo radiotruyen.com tại đây, mời xem truyện online tại đây

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Phúc Âm Chúa Nhật Lễ Lá ( ngày 01/04/2012 )



Lời Chúa trong Thánh Lễ Chúa Nhật Lễ Lá :


Nguồn : www.40giayloichua.net

Mời nghe bài giảng "Lễ Chúa Nhật Lễ Lá " của Giám Mục Phê Rô Nguyễn Khảm.



NGƯỜI TÔI TỚ CHÚA ĐI CHỊU KHỔ NẠN
Lm.Carôlô Hồ Bạc Xái

* 1. Chúa chọn con lừa

Nhiều độc giả Tin Mừng rất ngạc nhiên trước những lời căn dặn của Ðức Giêsu với hai môn đệ mà Ngài sai vào thành trước: "Các anh vào làng trước mặt kia. Tới noi sẽ thấy ngay một con lừa con chưa ai cởi bao giờ đang cột sẵn đó. Các anh cởi dây ra và đem nó về đây. Nếu có ai bảo tại sao các anh làm như vậy thì cứ nói là Chúa cần đến nó và Người sẽ gởi lại đây ngay" (các câu 2-3). Mọi việc đã diễn ra đúng lời Chúa dặn. Tưởng như một phép lạ. Thực ra không phải là phép lạ gì cả, mà là chính Ðức Giêsu đã kín đáo thu xếp trước với người thân của Ngài trong làng: đến ngày đó, tại địa điểm đó, họ hãy để sẵn hai con lừa, sẽ có hai môn đệ của Ngài đến dắt đi, mật khẩu để nhận ra nhau là một câu hỏi và một câu trả lời đã quy ước sẵn.

Tại sao Ðức Giêsu phải đích thân thu xếp các chi tiết cho chuyến vào thành Giêrusalem lần này? Thưa có hai lý do:

1/ Sự việc diễn ra "mấy ngày trước lễ Vượt Qua" (c 1). Lễ này kỷ niệm việc dân Do Thái được giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập, cho nên mỗi lần mừng lễ này, ý tưởng giải phóng luôn hiện lên trong đầu dân chúng, nhất là khi đất nước đang nằm dưới ách thống trị của ngoại bang. Chính vì thế, viên Tổng trấn Rôma bình thường vẫn an tâm ở tổng hành dinh của ông tại Syria, nhưng gần đến lễ Vượt Qua thì phải đến Giêrusalem để có thể trực tiếp chỉ đạo nếu có xảy ra nổi loạn. Trong bầu khí nhạy cảm đó, Ðức Giêsu phải kín đáo thu xếp để đừng ai biết trước chuyến vào thành của Ngài.

2/ Mọi chi tiết mà Ðức Giêsu đích thân thu xếp đều liên hệ đến con lừa. Tại sao? Vì Ngài không muốn người ta hiểu lầm Ngài là một nhà giải phóng quân sự hay chính trị. Ngài muốn người ta hiểu rằng Ngài là một vị vua hòa bình, hiền từ và khiêm tốn. Vua chinh chiến thì cỡi ngựa, còn vua hòa bình thì cỡi lừa.

Tuy nhiên xem ra không ai hiểu đúng ý Chúa: các môn đệ "lấy áo choàng của mình trải lên lưng nó", dân chúng thì cũng "chặt nhành chặt lá ngoài đồng mà rải. Người đi trước kẻ theo sau reo hò vang dậy" (các câu 7-9). Sự hồ hỡi của họ có lẽ xuất phát từ ý tưởng giải phóng: Hôm nay ngày giải phóng đã đến rồi, vị Anh hùng đã xuất hiện! Tóm lại mọi người đều nghĩ rằng hôm nay Ðức Giêsu bắt đầu cuộc khởi nghĩa.

*

Chúa nhật Lễ Lá hôm nay bắt đầu Tuần Thánh. Chúng ta có thể dùng đoạn Tin Mừng này để soi sáng ý nghĩa những sự việc sẽ xảy ra trong Tuần Thánh:

•Tại sao các Thượng Tế Do Thái tìm bắt Ðức Giêsu? Thưa vì họ tưởng rằng Ngài là một chính khách nguy hiểm. Tin Mừng thứ tư ghi nhận rằng ngay cả trước biến cố này, các vị lãnh đạo ấy đã tính đến khả năng sức thu hút quần chúng của Ðức Giêsu sẽ dẫn đến sự đàn áp của quân Rôma: "Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rôma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta" (Ga 11,48).

•Tại sao Giuđa nộp Ðức Giêsu cho các Thượng Tế? Nhiều chuyên gia Thánh Kinh cho rằng đó là do một tính toán chính trị: Hắn vẫn nghĩ Ðức Giêsu là một người có khả năng làm một cuộc đảo chánh. Nhưng Giuđa chờ mãi mà không thấy Ðức Giêsu làm gì nên hắn nộp Ðức Giêsu như dồn Ngài vào chân tường: hy vọng khi đã bị bắt thì Ðức Giêsu bó buộc phải ra tay hành động.

•Tại sao dân chúng hùa theo các Thượng Tế đòi giết Ðức Giêsu? Ðó là phản ứng thất vọng của những người đã từng hy vọng quá nhiều: Họ hy vọng Ðức Giêsu giải phóng đất nước nhưng khi Ngài không làm vậy thì họ thất vọng và trừng trị Ngài.

*

Hôm nay chúng ta cũng tay cầm lá, miệng tung hô Ðức Giêsu. Nhưng chúng ta coi Ngài là ai và mong gì nơi Ngài?

•Nếu chúng ta coi Ðức Giêsu là một vị vua uy quyền, chúng ta sẽ như các lãnh tụ Do Thái tìm cách trừ khử Ngài khi cảm thấy uy quyền ấy đe dọa đến quyền tự do của chúng ta.

•Nếu chúng ta coi Ngài là một vị vua giúp chúng ta chiến thắng thù địch, chúng ta sẽ như quần chúng hôm ấy chán bỏ Ngài khi Ngài không giúp chúng ta đạt được mục đích ấy.

•Nếu chúng ta coi Ngài là một thứ ô dù cho chúng ta núp bóng, chúng ta sẽ như các môn đệ bỏ Ngài mà chạy trốn khi ước vọng của chúng ta không thành.

Ðức Giêsu là một vị vua hòa bình, hiền từ và khiêm tốn. Ði theo Ngài có lẽ chúng ta sẽ không được hưởng đặc quyền đặc lợi, nhưng tâm hồn chúng ta sẽ luôn được bình an.

* 2. Con đường dẫn đến vinh quang

Trong bài Thánh Thư, Thánh Phaolô ngầm so sánh Ađam và Ðức Giêsu.

•Ađam đã muốn "dành cho được ngang hàng với Thiên Chúa". Nhưng kết quả chỉ là thấy mình trần truồng xấu hổ và bị đuổi khỏi hạnh phúc địa đàng.

•Còn Ðức Giêsu thì vâng lời Thiên Chúa mà hạ mình xuống đến mức tột cùng. Kết quả là được nâng lên tới mức tột cùng.

Tự nhiên, chúng ta theo con đường của Ađam: tìm cách khẳng định mình, tưởng rằng làm thế thì giá trị của mình sẽ được nâng cao. Nhưng chúng ta quên rằng chúng ta là do Thiên Chúa tạo dựng, vì thế chúng ta có giá trị hay không, được nâng cao hay không là do Thiên Chúa chứ không do chúng ta. Con đường tốt nhất là vâng lời Thiên Chúa, đi theo sự chỉ dẫn của Ngài, rồi Ngài sẽ nâng chúng ta lên đúng theo ý Ngài muốn.

* 3. Trao nộp Ðức Giêsu

Bài Tin Mừng theo thánh Mác cô cho thấy mọi người đều trao nộp Ðức Giêsu, nhưng vì những động cơ khác nhau (xin xem lại phần giải thích phía trên).

Suy nghĩ thêm, ta còn thấy có những cách trao khác nhau:

•Trao cái này để đổi lấy cái kia (như Giuđa, Philatô): cách trao vụ lợi

•Trao cho người khác cái mình muốn bỏ (các Thượng tế): cách trao ác độc.

•Trao cho người khác cái mình rất quý (Chúa Cha): cách trao yêu thương.

•Trao chính mình (Ðức Giêsu): yêu thương tột cùng.

Chúng ta hãy suy gẫm về những cách trao của mình và về cách mình trao Ðức Giêsu cho người khác.

* 4. Cách chịu đau khổ là thước đo nhân phẩm

Một điều hiển nhiên là cuộc đời ngập tràn đau khổ. Giáo lý đạo Phật dạy "Ðời là bể khổ". Nhiều người đã tìm nhiều cách để tránh khổ và diệt khổ. Nhưng có lẽ cái khổ sẽ không bao giờ tránh hết và diệt hết được.

Ðức Giêsu không tránh khổ, không diệt khổ. Ngài "vác" lấy đau khổ (thập giá), và Ngài dạy môn đệ mình "Ai muốn theo Ta, hãy vác thập giá mình mà theo".

Nino Salveneschi có suy nghĩ này: "Thật lạ khi người ta có thể tính toán chính xác về sức nặng có thể chất lên một chiếc xe, một chiếc tàu hay một chiếc máy bay... nhưng không tính nổi sức nặng có thể chất lên vai con người. Xét cho cùng, càng có thể vác nặng bao nhiêu thì càng có giá trị bấy nhiêu" (Savoir souffrir)

* 5. Phêrô chối Thầy

Việc ông Phêrô chối Thầy gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ:

- Ông là người nhiệt tình nhất với Ðức Giêsu, thế mà cuối cùng cũng chối Chúa. Nghĩa là bất cứ ai cũng yếu đuối và cũng có thể sa ngã nặng nề. Hơn nữa, Phêrô sa ngã vì ông không biết ông yếu, ông luôn tưởng mình mạnh.

- Lý do khiến Phêrô chối Chúa là vì ông sợ bị liên lụy. Nếu những người hỏi ông không phải là những người của vị Thượng Tế đang xét xử Ðức Giêsu thì chắc Phêrô vẫn mạnh dạn nhìn nhận mình là môn đệ Ðức Giêsu. Nhưng vì họ là người của Thượng Tế nên ông phải chối, kẻo họ báo cáo với Thượng tế rồi Thượng Tế cũng bắt ông luôn.

Phêrô đã dám theo Ðức Giêsu suốt 3 năm khi Ngài đi rao giảng, khi Ngài làm phép lạ... Trong thời gian đó không phải là Phêrô không cực khổ, nhưng ông có thể chịu được. Nhưng hôm nay ông chối vì chuyện hôm nay không chỉ là vấn đề cực khổ, mà là vấn đề an toàn của sinh mạng. Ông chấp nhận từ bỏ và hy sinh, nhưng chỉ từ bỏ và hy sinh đến một giới hạn nào đó thôi.

Có lẽ cũng có những giới hạn mà chúng ta đặt ra - tuy một cách vô ý thức - cho việc chúng ta theo Chúa, việc chúng ta từ bỏ, việc chúng ta hy sinh.

* 6. Vương quốc Tình yêu

Ngày 15-4-1996, linh mục George Parker, giám quản xứ thánh Giuse thuộc giáo phận Norwich ở Connecticut Hoa Kỳ, đã trả lại số tiền 5.000 đôla của nghị sĩ Christopher J.Dodd giúp cho trường học của giáo xứ. Cha Parker làm thế để phản đối nghị sĩ Dodd mang danh Công giáo, nhưng lại liên tục bỏ phiếu ủng hộ các dự luật phá thai. Cha Parker gọi số tiền của Dodd là "số tiền vấy máu hài nhi vô tội". Người không ngần ngại gọi Dodd là "môn đệ của thần chết".

Việc làm của cha khiến nhiều người cảm kích, dân chúng đã gởi về giúp trường học 61.000 đôla. Nhiều tổ chức bênh vực sự sống, và nhiều cơ quan truyền thông bày tỏ sự ngưỡng mộ ngài.

Trớ trêu thay không một linh mục nào trong giáo phận Norwich bênh vực hành động kiên cường ấy. Không ai dám công khai phê phán việc làm của nghị sĩ Dodd. Ðau đớn hơn nữa, chính đức cha Daniel A. Hart vì áp lực của nghị sĩ Dodd đã cho ngài ngưng việc coi xứ. Ðến nước này ngài chỉ biết xin về hưu. Ðức Cha Hart viết thư cho ngài như sau: "Tôi rất tiếc là cha đã xin về hưu với tâm trạng bị xử bất công. Tôi cầu nguyện cho sự đau khổ này sẽ kết hợp cha với Ðức Kitô một cách trọn vẹn hơn, nhờ Người mà cha tìm được niềm vui".

*

Câu chuyện trên đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ tâm trạng của Ðức Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay. Thánh Gioan viết: "Sắp đến lễ Vượt Qua, rất nhiều người đi Giêrusalem... Họ đang tìm Ðức Giêsu và hỏi han nhau: "Chắc ông ấy chẳng đến dự lễ đâu!" Còn bọn tư tế và Biệt phái đã ra lệnh: Bất cứ ai biết ông ấy ở đâu thì phải báo cho họ đến bắt" (Ga.11,55-57). Vậy Ðức Giêsu vào thành Giêrusalem với tâm trạng của một kẻ bị truy nã, một kẻ có tên trong sổ bìa đen.

Nhưng Người vẫn công khai vào thành, không một chút sợ hãi. Người cỡi trên lưng lừa con để thực hiện lời tiên tri Dacaria: "Này Vua ngươi đến, đầy vẻ dịu dàng, cỡi lừa, lừa con của lừa mẹ" (Dcr.9,9). Ðức Giêsu muốn chứng tỏ Người là Ðấng Mêsia, Vị cứu tinh, Vua hiền từ: Một Vị vua chiến thắng bằng cái chết trên thập giá, khác với chiến thắng bằng vũ lực của các vua trần thế ngồi trên lưng ngựa.

Dân chúng trải áo, lấy lá lót đường, hoan hô chúc tụng Người như một vị vua chiến thắng, Ðấng cứu tinh của dân tộc, đuổi lũ quân Rôma ra khỏi vùng Palestina, xô nhào chúng ra biển, tái lập vương quyền vua Ðavít. Trái lại, Ðức Giêsu đã cưỡi con vật hiền lành, tiến vào Giêrusalem, hành động này đã đi ngược lại quan niệm của họ, nên không lạ gì họ đã hùa theo nhóm Biệt phái, kết án tử hình cho Người chỉ vài ngày sau đó.

Cha Parker đã không chấp nhận thỏa hiệp với thế gian, với tội lỗi. Người đã giữ đúng vai trò tiên tri, chấp nhận lội ngược dòng, cho dù phải chịu khổ đau và bị bỏ rơi để nên giống Thầy Giêsu.

Ðức Giêsu không xua quân đi giao chiến với các dân tộc. Nhưng đã qui tụ mọi người chiến đấu với nghèo đói, bất công và thù hận.

Ðức Giêsu không đến để kết án và hủy diệt kẻ khác. Nhưng đã thứ tha và băng bó những vết thương tâm hồn.

Ðức Giêsu không ngồi trên ngai vàng để dân chúng hầu hạ. Nhưng đã quì xuống rửa chân cho các thần dân.

Ðức Giêsu không đến để thiết lập một vương quốc trần gian tạm bợ, Người đến để xây dựng một vương quốc vĩnh hằng, vương quốc tình yêu ngay trong lòng mọi người.

*

Lạy Chúa, người đời đón rước Chúa vào thành Giêrusalem, để rồi lại kết án Chúa ngay trong thành thánh. Xin cho chúng con đừng bao giờ thỏa hiệp với thế gian, nhưng cho chúng con can đảm theo Chúa đến chiều thứ Sáu Tuần Thánh, để được sống lại với Chúa trong đêm Phục Sinh khải hoàn. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

Thánh Ca : Cho Con Vững Tin


HOAN HÔ! VẠN TUẾ!
Cha Mark Link, S.J.

Gilbert Frankau kể lại câu chuyện của một người bạn ông từng là sĩ quan pháo binh trong Đệ nhất thế chiến. Thời đó không có rađa để hướng dẫn pháo binh vào đúng mục tiêu. Vô số trái đạn chỉ lăn lỏng chỏng trên các ngọn đồi và bụi cây tựa như người ta lấy đá ném vào tấm bia. Thỉnh thoảng, một binh sĩ được lệnh dùng một nhiệt khí cầu bay trên không để hướng dẫn các tay súng. Anh ta từ cao nói như hét xuống "Qua bên trái một chút" hoặc "Qua phải một chút!". Anh bạn của Frankau nói: "Hễ cứ leo lên khí cầu là tôi chết khiếp đi được. Tôi biết rõ mình trở thành mục tiêu tuyệt hảo cho họng súng quân thù. Chẳng bao giờ tôi chế ngự được nỗi sợ nhưng tôi cũng chẳng hề để cho nỗi lo sợ giữ tôi nán lại ở mặt đất".

***

Câu chuyện trên đây sẽ gíup chúng ta hiểu rõ hơn đoạn Phúc Âm chúng ta vừa đọc.
"Đức Giêsu phải can đảm kinh khủng khi tiến về Giêrusalem vào dịp lễ Vượt qua đặc bịêt này. Ngài can đảm đến độ không thể nào tin nổi. Phúc Âm thánh Gioan giải thích cho chúng ta biết như sau: 'Sắp lễ vượt qua, và rất nhiều người đi Giêrusalem… Họ đang tìm đến Đức Giêsu và… hỏi han nhau" bạn nghĩ sao? Chắc Ngài chẳng đến dự lễ đâu!' Bọn tư tế và biệt phái đã ra lệnh: Bất cứ ai biết Đức Giêsu ở đâu thì phải báo cáo ngay để họ bắt Ngài"
(Ga 11: 55-57)

Điều đó khiến chúng ta hồi hộp lo ngại cho việc Đức Giêsu tiến vào thành Giêrusalem. Ý nghĩa sâu xa đằng sau cách thức Đức Giêsu tiến vào thành Giêrusalem và cách thức dân chúng chào đón con Ngài là gì? Để trả lời cho câu hỏi ấy, chúng ta hãy xem lại cách thức Đức Giêsu tiến vào thành. Phúc Âm thánh Gioan kể lại: "Đức Giêsu tìm thấy một con lừa và cỡi lên nó, đúng như lời Kinh thánh dạy: Hỡi thành Sion, đừng sợ, này đây vua ngươi đến, Ngài đang cỡi trên một chú lừa con" (Ga 12, 14-15)

Khi Đức Giêsu tiến vào thành, dân chúng vẫy các nhành thiên tuế và reo lên: "Hosanna! vạn tuế Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hoan hô vua Irsael" (Ga 12: 13)

Thánh Gioan kết thúc bài mô tả bằng lời phê bình khác thường như sau: "Lúc đó các môn đệ Đức Giêsu chưa hiểu điều ấy, nhưng khi Đức Giêsu đã được đưa lên chốn quang vinh, họ mới nhớ lại lời Thánh Kinh viết điều này về Ngài và chính họ đã thực hiện điều ấy cho Ngài" (Ga 12: 16)

Vậy ý nghĩa xâu xa đằng sau cách thức Chúa Giêsu vào thành và cách thức dân chúng vẫy các nhành thiên tuế và hô to lời "Hosanna" để chào đón Ngài là gì?

Thật là khôi hài, chìa khoá để trả lời câu hỏi này lại nằm nơi chú lừa Đức Giêsu cỡi. Đối với thế giới hiện nay, con lừa chẳng phải là một ý niệm hấp dẫn gì! Chúng ta thường nghĩ lừa là một con vật đần độn.

Gilbert Keith Chesterton đã làm một bài thơ phổ biến ý niệm này. Trong bài thơ ấy, chú lừa quan sát vẻ xấu xí của mình và tự nhủ:

"Chắc hẳn ta sinh ra khi mảnh trăng nhuốm máu,
khi cá lượn trên không,
lúc cây rừng cất bước,
và vả mọc trên gai… 'Ôi chiếc đầu kỳ quái, tiếng kêu ghê tởm,
Đôi tai khác nào đôi cánh lạc loài, dáng đi qủi quái nhất trong các loài động vật bốn chân…'
"Hỡi lũ điên rồ! ta cũng có "giờ" của ta chứ,
Một giờ thực hiện oanh và êm dịu,
khi bên tai ta vẳng vẳng tiếng hò reo
Và nhành thiên tuế chập chờn trước bước chân ta đấy"
Và thế là chú lừa ta thốt lên:
"Qúi vị thời nay có lẽ cười nhạt tớ
nhưng nên nhớ rằng tớ đã được chọn,
trong tất cả giống thú vật trần gian
để cõng trên mình Đấng Cứu Tinh thế giới".


Mặc dù chúng ta thường nhạo báng giống lừa nhưng các nhân vật trong Kinh Thánh đã khen ngợi chúng. Lừa là một giống vật hiền hoà, khác hẳn với loài ngựa là giống vật dành cho chiến tranh thường chở chiến binh vào chiến địa.

Giacaria đã tiên báo Đấng Mêsia sẽ cỡi lừa tiến vào Giêrusalem. Giờ đây Đức Giêsu đang thực hiện lời tiên báo ấy của Giacaria. Làm thế Ngài đã thực hiện hai điều xác quyết: Thứ nhất: Ngài xác nhận mình là Đấng Mesia của Israel. Thứ hai; Ngài mặc khải cho biết sứ mệnh thiên sai của Ngài là gì.

Vào thời Chúa Giêsu, việc mặc khải này không được cho là hay ho gì cả bởi nhiều người hiểu rất mơ hồ về sứ mệnh của Đấng Mêsia. Chẳng hạn, có nhiều người nghĩ rằng sứ mệnh của Đấng Mêsia phần lớn hệ tại việc đoàn kết dân chúng lại dưới quyền lãnh đạo của Ngài để đuổi lũ quân Rôma ra khỏi vùng Palestine, đẩy chúng ra ngoài biển. Đức Giêsu cỡi trên mình con vật hiền lành tiến vào Giêrusalem, hành động này đã đi ngược lại ý tưởng ấy. Nó mặc khải cho thấy Đấng Mêsia không phải là ông vua chinh chiến, bắt đám quân đến để ngồi trên ngôi báu và bắt đám dân bị chinh phục hầu hạ. Ngài đã đến quì gối xuống trên sàn nhà và rửa chân cho các thần dân của mình.

Đức Giêsu đã không đến để đoàn kết dân chúng sau lưng mình và đi giao tranh với các dân tộc khác. Ngài đến liên kết họ lại với nhau sau lưng Ngài để chiến đấu chống lại nghèo khổ, đói khát, thù hận và tất cả mọi hình thức bất công, Đức Giêsu không đến để kết án kẻ khác, Ngài đến để tha thứ cho họ, Đức Giêsu không đến để phá đổ những giấc mơ của quần chúng. Ngài đến để làm cho những giấc mơ đó thành hiện thực bằng một phương cách lạ lùng nhất, không thể tưởng tượng nổi. Đức Giêsu không đến cưỡng bức quần chúng theo Ngài, Ngài đến để kêu mời họ.

Hôm nay chúng ta đón mừng một Đức Giêsu như thế đấy. Chính Đức Giêsu đó muốn đi sâu vào tâm hồn chúng ta một cách đặc biệt trong Tuần Thánh sắp tới. Chính Đức Giêsu như thế đang hiện diện giữa chúng ta ngay lúc này đây, lúc chúng ta bắt đầu nghi thức phụng vụ rước lá chung quanh giáo đường.

Vậy chúng ta hãy vui mừng và cùng hát với các tín hữu khắp mọi nơi:
"Hosanna! Vạn tuế Đấng nhân danh mà Chúa mà đến! Vạn tuế Đức Vua của Israel!".

Thánh Ca : Tình Con Yêu Chúa

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Nghe audio truyện dã sử TQ : "Bao Công Xử Án " - Nguyễn Văn Thủy



Tác phẩm : Bao Công Xử Án
Dịch giả : Nguyễn Văn Thủy
Người đọc: Trái Táo


Bao Công tên thật là Bao Chửng (chữ Hán: 包拯; 999–1062), tự Hy Nhân. Ngoài ra, ông còn được gọi là Bao Thanh Thiên, Bao Hắc Tử hay Bao Long Đồ...

Bao Công nổi tiếng là một vị quan “thanh liêm, chấp pháp nghiêm, không khiếp sợ quyền uy hay vị nể tư tình” dưới thời hoàng đế Tống Nhân Tông (1022 - 1063). Bao Công, người Hợp Phì, Lư Châu (nay là thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy, Trung Quốc). Cha ông là Bao Nghi, từng giữ chức đại phu trong triều. Sau khi qua đời, Bao Nghi được phong Hình bộ Thị lang.

Lúc nhỏ, Bao Công đã nổi tiếng là đứa con hiếu thảo, đôn hậu, sống mực thước. Năm 1027, ông thi đậu tiến sĩ, được cử đến nhậm chức tri huyện Kiến Xương (nay thuộc tỉnh Giang Tây), nhưng vì cha mẹ già yếu, không thể đến sống ở Kiến Xương, nên Bao Công xin được khoan nhận việc, để ở lại chăm sóc cho cha mẹ.

Sau khi cha mẹ qua đời, ông mới đi nhậm chức tri huyện Thiên Trường (nay thuộc tỉnh An Huy), sau đó là tri phủ Đoan Châu (nay thuộc TP. Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông). Nghe tiếng Bao Công tận tụy và thanh liêm, nhà vua cho triệu ông về kinh giao cho chức Trung thừa, rồi lần lượt thăng các chức Giám sát Ngự sử, Trực học sĩ Long đồ các, Tam tư Hộ bộ Phó sử, đến Thiên Chương các Thị chế (nên người đời sau còn gọi ông là Bao Thị chế).

Năm 1057, ông được nhậm chức Phủ doãn phủ Khai Phong , chức vụ cao nhất mà Bao Công đảm nhận ở cuối đời là Xu mật Phó sử, tương đương với chức phó tể tướng. Năm 1062, ông lâm bệnh mất ở nơi làm việc, hưởng thọ 64 tuổi. Hoàng đế Tống Nhân Tông đích thân làm chủ lễ truy điệu, phong cho Bao Công là Lại bộ Thượng thư, ban cho thụy hiệu “Hiếu Túc”, có nghĩa là hiếu đạo và thiết diện vô tư và còn phái một đoàn ngự lâm quân hộ tống linh cửu ông về mai táng ở quê nhà ông.

Hiện nay đền thờ của ông có hai câu liễn: “Lý Oan Ngục, Quan Tiết Bất Thông, Tự Thị Diệm La Khí Tượng. Chẩn Tai Lê, Từ Thiện Vô Lương, Y Nhiên Bồ Tát Tâm Trường”. Đại ý nói về phẩm chất cao quý của ông.

Mời các bạn xem truyện "Bao Công Xử Án" tại đây, tải truyện ePub tại đây

Mời các bạn tải về theo Mediafire tại đây , nghe audio truyện "Bao Công Xử Án" tại đây hoặc tại đây

01/ Bao Công Xử Án - Hồi 01: Con Nhện Đoán Án Hay Cái Tài Suy Luận Của Bao Công

02/ Bao Công Xử Án - Hồi 02: Nhân Một Bài Thi

03/ Bao Công Xử Án - Hồi 03: Áp Dụng Một Tật Thông Thường Của Loài Ngựa: Ngựa Quen Đường Cũ

04/ Bao Công Xử Án - Hồi 04: Vụ Án Con Ngỗng Của Bao Công

05/ Bao Công Xử Án - Hồi 05: Ai Giết Con Ông Hàng Thịt?

06/ Bao Công Xử Án - Hồi 06 : Đồng Mưu Hại Chồng

07/ Bao Công Xử Án - Hồi 07 : Đem Mèo Tráo Chúa

08/ Bao Công Xử Án - Hồi 08 : Cây Roi Của Người Câm

09/ Bao Công Xử Án - Hồi 09 : Ai Lấy Cắp Gói Bạc Của Nàng Nguyệt Nga

10/ Bao Công Xử Án - Hồi 10 : Vụ Án Con Trâu

11/ Bao Công Xử Án - Hồi 11 : Xác Người Dưới Giếng

12/ Bao Công Xử Án - Hồi 12 : Oan Ông Bố Chồng

13/ Bao Công Xử Án - Hồi 13 : Tra Án Ăn Cướp

14/ Bao Công Xử Án - Hồi 14 : Chút Xíu Mất Đầu Vì Chị Dâu

15/ Bao Công Xử Án - Hồi 15 : Cây Dù Chia Đôi

16/ Bao Công Xử Án - Hồi 16 : Thân Gái Dặm Trường

17/ Bao Công Xử Án - Hồi 17 : Nghe Lời Khai Mà Luận

18/ Bao Công Xử Án - Hồi 18 : Tù Vì Bạn

19/ Bao Công Xử Án - Hồi 19 : Rượu Vào, Của Ra

20/ Bao Công Xử Án - Hồi 20 : Vụ Án Cái Chổi

21/ Bao Công Xử Án - Hồi 21 : Giang Ngạn Hắc Long

22/ Bao Công Xử Án - Hồi 22 : Con Thiên Miêu

23/ Bao Công Xử Án - Hồi 23 : Mẹ Ghẻ Con Chồng

24/ Bao Công Xử Án - Hồi 24 : Ỷ Thế Hiếp Người - P1

24/ Bao Công Xử Án - Hồi 24 : Ỷ Thế Hiếp Người - P2

25/ Bao Công Xử Án - Hồi 25 : Đôi Hài Chôn Dưới Bùn

26/ Bao Công Xử Án - Hồi 26 : Đầy Tớ Phản Chủ

Nghe theo Playlist YouTube, tải về tại đây :

Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2012

Phúc âm Lễ Chúa Nhật V Mùa Chay (ngày 25/03/2012)



Lời Chúa trong Thánh Lễ Chúa Nhật Thứ V Mùa Chay:


Nguồn : www.40giayloichua.net

Mời nghe bài giảng "Lễ Chúa Nhật V Mùa Chay " của Giám Mục Phê Rô Nguyễn Khảm.



Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊ SU
Lm.Carôlô Hồ Bạc Xái

* 1. Biện chứng giữa chết và sống

Chết và sống không hẳn là 2 điều luôn đối nghịch nhau, nhiều khi chúng liên kết hỗ trợ nhau: sự chết nuôi sự sống và sự sống sống được là nhờ sự chết. Vài thí dụ:

•Nơi thực vật: những thứ được dùng làm phân bón phải chết đi thì mới thành chất bổ dưỡng cho cây.

•Nơi sinh vật: các thức ăn phải "tiêu" mới "hóa" thành lương thực.

•Trong cõi nhân sinh: những người già chết đi để nhường đất và hoa màu của đất cho các thế hệ sau dùng đó mà sống.

•Ngọn nến: sáp nến phải chảy ra và bị đốt thì ánh sáng mới bùng lên.

•Trong bài Tin Mừng này, Ðức Giêsu nói: hạt lúa có thối đi thì cây lúa mới nẩy mầm.

Ðức Giêsu chết để cho con người sống. Sự chết của Ngài là nguồn sự sống cho chúng ta.

* 2. "Ðã đến Giờ Con Người được tôn vinh"

"Giờ" này không phải là một khoảnh khắc chiếm một chỗ xác định rõ trong dòng thời gian, không đo bằng đồng hồ, không tính theo toán học gồm 60 phút, mà là một thời điểm vô cùng quan trọng đánh dấu bắt đầu một thời đại mới sẽ kéo dài đến mãi mãi.

Ðó là lúc Ðức Giêsu bước lên Thập giá. Khi đó mọi trục trặc vướng víu trong liên hệ giữa loài người với Thiên Chúa được tháo gỡ hết, tương giao giữa loài người với Thiên Chúa được thông suốt, nhờ thế tình thương và sức sống dồi dào của Thiên Chúa được chuyển thông dào dạt cho loài người.

Chính vì thế, Ðức Giêsu nói "Ðã đến giờ con người được tôn vinh". "Con người" đây vừa là Ðức Giêsu mà cũng vừa là loài người, vì mọi người đều là "con người". Chẳng những Ðức Giêsu được tôn vinh mà mọi người cũng được tôn vinh nhờ cái chết của Ðức Giêsu trên thập giá.

* 3. Các vai trong vỡ tuồng thập giá

Ðoạn Tin Mừng hôm nay giúp ta thấy rõ những người có liên hệ trong cái chết của Ðức Giêsu.

•Hai vai chính là Chúa Cha và Ðức Giêsu: Ðức Giêsu thưa "Lạy Cha, xin hãy làm vinh danh Cha" ; và tiếng từ trời vọng xuống "Ta đã làm vinh danh Ta và Ta còn làm vinh danh Ta nữa". Cuộc đối thoại bằng những lời lẽ cao siêu này vượt quá tầm hiểu biết của những người có mặt ở đấy hôm đó. Vì thế có người cho là tiếng sấm và có người cho là tiếng thiên thần. Cái chết của Ðức Giêsu là kết quả của một sự đối thoại và thỏa thuận giữa Chúa Cha và Ðức Giêsu để thực hiện chương trình yêu thương của Thiên Chúa đối với loài người.

•Nhưng loài người cũng có liên quan: Ðức Giêsu nói "Tiếng đó phát ra không phải vì Ta mà vì các ngươi" -- Cuộc đối thoại trên là một mặc khải cho loài người: Tuy họ không hiểu tại sao Ðức Giêsu chết, cũng chẳng hiểu tại sao chết mà là tôn vinh, nhưng họ được nói cho biết cái chết ấy là vì họ và cho họ.

•Do đó, đương nhiên mỗi người cũng có liên hệ: "Hãy theo Ta. Ta ở đâu thì kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó. Ai phụng sự Ta thì Cha Ta sẽ tôn vinh nó" à Thập giá là con đường dẫn đến tôn vinh. Mỗi người chúng ta có đi theo Ðức Giêsu trên con đường thập giá thì mới đến được chỗ Ðức Giêsu ở và mới được tôn vinh như Ngài.

* 4. Hạt lúa mì mục nát.

Cha Dieudonné Bourgignon, người Bỉ, đã từng bị Ðức Quốc Xã bắt giam trong trại tập trung Dachau thời Ðệ Nhị Thế Chiến kể lại:

Vào một đêm cuối tháng bảy, một tù nhân khu trại 4 thuộc trại giam Auschwitz đã trốn thoát. Phòng hơi ngạt của trại này đã từng thủ tiêu 6 triệu người Do thái; 1/3 dân Do thái trước Thế Chiến. Sáng hôm sau, viên sĩ quan hằn học tuyên bố: "Tất cả những người có mặt phải đứng nghiêm trong hàng ngũ". Ðoàn tù nhân phải chôn chân không mủ nón đứng dưới ánh nắng đổ lửa của mùa hạ miền nam Ba Lan. Buổi chiều khi các tù nhân khu giam khác đi làm về. Viên sĩ quan nói: "Mười trong số những người này phải trả nợ". Lập tức tên sĩ quan duyệt qua hàng tù nhân chỉ ra mười người, trong đó có một đàn ông kêu rên thảm thiết vì thương người vợ trẻ và đàn con thơ dại.

Maximilien Kolbe nghe lời ai oán của bạn tù đã thốt lên: "Tôi xin chết thay cho người này". Ðoàn người sững sờ. Tên sĩ quan không ngờ diễn tiến của biến cố. Hắn tò mò muốn hiểu rõ: "Tại sao muốn chết?" Maximilien Kolbe điềm tỉnh trả lời: "Tôi là linh mục Công giáo".

Mười tử tội tiến chầm chậm vào cõi địa ngục. Người ta bỏ rơi họ trong phòng tối không ăn uống cho đến chết. Những giờ phút tăm tối lê thê. Ngày 18-8-1941, mười người còn lại bốn, đang thoi thóp hấp hối. Một người trong đó là Kolbe. Tất cả được nhận mũi thuốc độc ân huệ.

*

"Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất không chết đi thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó chết đi, thì nó sinh nhiều bông hạt' (Ga.12,24) Ðể có một quyết định anh hùng như cha Maximilien Kolbe quả không dễ dàng chút nào. Tại sao tôi phải chết đi để người khác được sống? Ðành rằng chết để sinh nhiều bông hạt, nhưng có ích gì khi chính tôi bị tan rã? Vì thế, chúng ta không muốn chết như hạt lúa, chúng ta chấp nhận trơ trọi một mình.

Vậy sức mạnh nào thúc đẩy chúng ta dám chết cho anh em? Ðộng lực nào thúc giục chúng ta hiến thân cho đồng loại? Chính Ðức Giêsu đã cho ta giải đáp: "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình" (Ga.15,12). Tình yêu cao quý hơn cuộc sống và mãnh liệt hơn sự chết. Cái chết của Ðức Giêsu đã nên lời yêu thương con người. Chính vì Người đã không xuống khỏi thập giá nên không ai có thể nghi ngờ tình yêu của Người. Chính vì dám chết cho tình yêu nên luật yêu thương của Người trở nên một thách đố. Thách đố con người chui ra khỏi vỏ ốc ích kỷ của mình, ra khỏi những bận tâm, toan tính, vun quén cho mình, để sống cho tha nhân và cho Thiên Chúa.

Quên mình, hiến thân, đón nhận cái chết như hạt lúa mục nát, đã từng làm cho Ðức Giêsu trăn trở, nao núng và thổn thức. Những giây phút cuối cùng giáp mặt với tử thần không thể không gay go, thống thiết và đầy thách thức: "Bây giờ linh hồn Ta xao xuyến và biết nói gì? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này" (Ga.12,27). Thế nhưng, Người đã biến cuộc tử nạn nên lời tôn vinh Thiên Chúa và lời yêu thương con người: "Chính vì thế mà con đã đến trong giờ này" (Ga.12,27).

Cái chết của cha Kolbe và tất cả những cái chết hiến thân cho tha nhân đều nói lên lời yêu thương con người và tôn vinh Thiên Chúa. Tác giả Anthony Padovano viết: "Chúng ta được cứu rỗi không chỉ vì cái chết thể xác của Ðức Giêsu, nhưng vì tình yêu vô biên của Người sẵn sàng chấp nhận cái chết".

Ðiểm quan trọng là ở giây phút định mệnh, đối mặt với cái chết, Ðức Giêsu luôn tha thiết cầu nguyện với Cha và Người dạy chúng ta hãy học kinh nghiệm nơi Người: "Các con hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ" (Lc.22,40). Cầu nguyện không là liều thuốc giảm đau, ngăn chặn nao núng sợ hãi, nhưng cầu nguyện là thái độ sống thực, sống tin yêu, phó thác. Khi cầu nguyện chúng ta không mong Chúa đổi ý, cứu ta thoát chết, cũng không xin Người ru ngủ để ta chết êm ái.

Ở giây phút quyết liệt, cầu nguyện chính là gặp gỡ Chúa với nỗi xao xuyến, giằng co của cái chết nhưng trọn vẹn tâm tình hiến dâng. Chết không phải là nhảy vào khoảng không vô tận, nhưng ta gieo mình vào cánh tay Thiên Chúa Tình yêu.

Chúng ta không thể thuyết phục cái chết dời xa cánh cửa đời ta, nhưng chúng ta có thể đón tiếp cái chết như vị ân nhân đưa ta vào ngưỡng cửa vĩnh hằng.

Chính lúc Ðức Giêsu gục đầu tắt thở thì cây thập tự trổ nụ đơm bông mùa cứu rỗi. Và khi người tín hữu hiến dâng cái chết như lời tạ ơn cao đẹp cuối cùng thì mùa hoa nhân ái tỏa hương thiên đường.

*

Lạy chúa, chúng con sợ nói về cái chết và tất cả những gì dính líu tới cái chết, nhưng chúng con cũng hiểu rằng sẽ có một ngày chúng con giáp mặt Chúa trong phút định mệnh. Xin giúp chúng con sống can đảm từng ngày, để chúng con dầy dạn với thử thách quyết liệt sau cùng của cuộc đời. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

* 5. Chết đang khi sống

Nhiều người coi sống và chết là hai sự việc nối tiếp nhau: khi không còn sống nữa thì chết. Nghĩ như thế là vì người ta chỉ biết có mỗi một sự sống, là sự sống của thể xác, và cũng chỉ biết có mỗi một sự chết, cũng là sự chết của thể xác.

Thực ra, sống và chết là hai việc đi song song với nhau trong cùng một đời người. Bởi vì có tới hai sự sống và hai sự chết: sự sống chết của con người thể xác và sự sống chết của con người đích thực. Câu nói của Ðức Giêsu trong đoạn Tin Mừng này hàm chứa hai sự sống chết đó: "Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời". Nói cách khác cho dễ hiểu hơn: ai cố bám víu vào sự sống của con người thể xác thì sẽ đánh mất sự sống của con người đích thực ; còn ai dám để cho sự sống của con người thể xác chết đi thì đồng thời bồi dưỡng cho sự sống của con người đích thực.

Bởi đó, có người dám nói: "Chết là một phần của sống. Chúng ta sinh ra là để chết, hầu có thể sống sung mãn hơn". Thực vậy,

•mỗi một hành vi khiêm tốn là một phần tính kiêu ngạo chết đi.

•mỗi một hành vi can đảm là một phần tính hèn nhát chết đi.

•mỗi một hành vi dịu dàng là một phần tính hung bạo chết đi.

•mỗi một hành vi yêu thương là một phần tính ích kỷ chết đi.

Con người tội lỗi chết dần đi thì con người đích thực được dựng nên giống hình ảnh Chúa dần dần sống mạnh. (Viết theo Flor McCarthy)

* 6. Tâm sự của Ðức Giêsu

Tôi cảm động vì lời Ðức Giêsu thổ lộ tâm sự: "Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến".

Ðức Giêsu đã tâm sự rất thật thà. Ngài nói thật với các môn đệ rằng Ngài xao xuyến trước cái chết sắp tới. Không phải vì Ngài đã từng khuyến khích họ mạnh dạn hy sinh mà nay Ngài phải che dấu cảm xúc xao xuyến của mình. Ngài cũng không muốn làm bộ anh hùng bất khuất. Cảm thấy thế nào, Ngài nói thế đó.

Tôi cũng muốn tìm hiểu xem vì sao mà Ngài xao xuyến.

•Chắc hẳn Ngài xao xuyến vì không cam tâm chịu chết. Một con người mới 30 tuổi đang tràn đầy sức sống mà phải chết ư?

•Ngài còn xao xuyến hơn vì phải chết cách đau đớn. Chết đóng đinh trên thập giá là khổ hình tàn bạo nhất trong các hình thức xử tử.

•Nhưng Ngài xao xuyến sâu xa hơn nữa là vì sự nhục nhã khi phải chịu xử tử như thế. Gần giống như một võ sĩ vô địch mà phải nhận chỉ thị phải thua một võ sĩ hạng thấp hơn mình, không chỉ phải thua bằng tính điểm mà còn phải thua bằng "knock out" nhục nhã. Ngài chết như thế thì những kẻ thù ghét Ngài sẽ hả hê như thế nào? Và những môn đệ thân yêu của Ngài sẽ hoang mang như thế nào?

Bởi vậy, Ðức Giêsu đã thốt lên lời van xin: "Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này". Tuy thế, Ngài mau mắn thưa tiếp: "Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha".

Ðức Giêsu thật tội nghiệp! mà cũng rất đáng phục!

Trước ngưỡng cửa cuộc tử nạn và tôn vinh của Ðức Giêsu, Hội thánh muốn giúp chúng ta hiểu rằng Ðức Giêsu đã trở nên như hạt lúa mì bị chết đi để sinh nhiều hạt khác. Lạy Ðức Giêsu, Chúa đã hy sinh mạng sống để chúng con được sống thật. Xin Chúa đánh tan thói ích kỷ, sợ khó, và nâng đỡ sự yếu hèn của chúng con, để chúng con trở thành môn đệ thực sự của Chúa, biết sẵn sàng hy sinh phục vụ mọi người chung quanh chúng con.Amen.

Thánh Ca : Cho Con Vững Tin


HẠT LÚA CHẾT ĐI
Cha Mark Link, S.J.

Câu chuyện bà Catherine Marchall và chị nữ tu truyền giáo

Vài năm trước đây, bà Catherine Marshall có viết một bài báo nhan đề "Khi Chúng Ta Dám Tin Vào Thiên Chúa". Bài báo thuật lại rằng bà bị liệt giường suốt 6 tháng không ăn uống được vì một bệnh nhiễm trùng phổi trầm trọng. Mặc dù được điều trị bằng vô số thuốc men và được bao nhiêu người cầu nguyện cho, bà vẫn cảm thấy tuyệt vọng hoàn toàn.

Một hôm có người biếu bà một cuốn sách nhỏ kể chuyện một nữ tu truyền giáo bị một chứng bệnh kỳ lạ. Chị nữ tu này bị cơn bệnh đó dày vò suốt 8 năm trời và chị không thể hiểu nổi tại sao Chúa lại để cho tấm thảm kịch này đến với mình. Ngày nào chị cũng cầu xin cho mình được khoẻ mạnh để chu toàn công việc truyền giáo của mình. Nhưng lời cầu xin của chị vẫn chưa được Chúa nhậm lời. Một ngày kia, thất vọng quá chị khóc lóc với Chúa: "Lạy Chúa, con tuyệt vọng rồi! Nhưng không sao; nếu Chúa muốn con trở thành tàn phế, thì đó là do ý của Chúa!". Thế rồi hai tuần sau, chị nữ tu đó được hoàn toàn bình phục.

Catherine Marshall để cuốn sách đó sang một bên. Câu chuyện kỳ lạ ấy khiến bà bối rối. Bà nói: "Dẫu sao tôi vẫn không quên được câu chuyện ấy!". Thế rồi một buổi sáng nọ, bà Catherine kêu cầu Chúa bằng những lời tương tự như lời cầu nguyện của chị nữ tu ấy: "Con kêu xin Chúa ban sức khoẻ cho con, con đã mỏi mệt quá rồi! Xin Chúa hãy quyết định là Chúa muốn cho con khoẻ mạnh hay bệnh tật đi!". Về sau, Catherine kể lại rằng, vào lúc ấy, sức khoẻ bà bắt đầu hồi phục lại.

Ý nghĩa của câu chuyện giúp hiểu bài tin mừng hôm nay

Câu chuyện vị nữ tu truyền giáo và câu chuyện của bà Catherine Marshall giúp chúng ta hiểu những gì Đức Giêsu đang muốn nhắn nhủ trong bài Tin Mừng hôm nay. Hai câu chuyện đó chứng tỏ lời Chúa Giêsu dạy: nếu hạt lúa không chết đi, nó sẽ chẳng đem lại hoa trái. Nói cách khác, nếu chúng ta không chết ý riêng của mình đi, chúng ta cũng không thể sinh hoa trái cho Thiên Chúa được. Nếu chị nữ tu không chết ý riêng của mình đi để nói lên câu: "Lạy Chúa, con đã tuyệt vọng rồi; nhưng không sao!" thì có lẽ bà ta vẫn mãi mãi là một phế nhân. Nhưng chị đã chết ý riêng của mình, nên đã bình phục và sinh hoa trái.

Nếu Catherine Marshall đã không hy sinh ý riêng mình để nói lên câu: "Lạy Chúa xin hãy quyết định điều Ngài muốn", thì có lẽ bà vẫn nằm lại trong tình trạng bệnh hoạn. Nhưng bà đã hy sinh ý riêng, nên bà cũng được lành bệnh và kết sinh hoa trái.

Câu chuyện của chị nữ tu và của bà Catherine Marshall khiến chúng ta nhớ lại câu chuyện của Chúa Giêsu trong vườn Giêtsimani. Trong cơn hấp hối tại đó, Ngài đã thốt lên cùng Thiên Chúa: "lạy Cha…. không phải ý con… nhưng xin theo ý Cha" (Lc 22: 42). Giả như Chúa Giêsu không bắt ý riêng Ngài phải chết đi trong mảnh vườn ấy, thì anh chị em cũng như tôi sẽ không được cứu khỏi tội lỗi mình.

Tất cả những câu chuyện về chị nữ tu, về Catherine Marshall và về Đức Giêsu đều dạy cho chúng ta cùng một bài học. Chúa dạy ta biết sẵn lòng làm chết ý riêng mình đi nếu chúng ta muốn mang lại hoa trái cho Thiên Chúa. Chúa dạy ta phải biết sẵn lòng tín thác vào Chúa và giao phó bản thân mình trong tay Ngài nếu chúng ta muốn đạt được sự sống đời đời.

Những câu chuyện có ý nghĩa gì đối với ta? Nói một cách cụ thể, tất cả điều này có ý nghĩa gì đối với cuộc sống thường nhật của anh chị em và tôi?

Chúng ta hãy xem xét vài sự kiện có khả năng xảy ra:

Giả như cuộc hôn nhân của chúng ta bị tan vỡ và chúng ta cần sự trợ giúp từ bên ngoài, nhưng vì quá kiêu căng chúng ta không muốn yêu cầu điều ấy. Như vậy "bắt ý riêng chết đi" có nghĩa là bắt lòng kiêu ngạo của ta chết đi và sẵn sàng tìm kiếm sự trợ giúp.

Hoặc giả như chúng ta được bạn bè thân tín cho biết chúng ta đang ngày càng bê tha rượu chè, nhưng chúng ta cứ tiếp tục không nghe dù tình trạng bê tha gia tăng rõ ràng. Như thế chết cho ý riêng có nghĩa là nhìn nhận vấn đề của chúng ta và tìm kiếm phương thuốc điều trị.

Giả như một bạn bè hoặc một người thân trong gia đình xúc phạm đến chúng ta một cách nào đó, khiến chúng ta cứ giữ mãi mối ác cảm với người ấy, thì "Chết cho ý riêng mình" có nghĩa là thật lòng tha thứ cho người ấy và lại tiếp tục dùng tình thương cư xử với y.

Chết cho ý riêng mình là điều không dễ

Chị nữ tu đã không cảm thấy dễ dàng khi nói với Chúa rằng chị chấp nhận làm một kẻ tàn phế nếu ý Ngài muốn như thế. Catherine Marshall đã không cảm thấy dễ dàng khi thưa với Chúa bà sẽ chấp nhận bất cứ số mệnh nào ngài quyết định cho bà. Đức Giêsu đã không cảm thấy dễ dàng trong việc ưng thuận thi hành bất cứ điều gì Cha Ngài muốn. Nhưng cả ba người - chị nữ tu, Marshall và Đức Giêsu đã tin Thiên Chúa và phó mình trong tay Ngài. Họ đã chết "cho chính mình’ và từ đó đem lại kết quả là sinh nhiều hoa trái cho Thiên Chúa.

Kết luận:

Tin Mừng trong các bài đọc hôm nay là. chúng ta có thể làm được như thế. Chúng ta có thể noi gương vị nữ tu, bà Catherine Marshall và Đức Giêsu. Và chúng ta cũng có thể đem lại nhiều hoa trái cho Thiên Chúa.

Có thể chúng ta phải chiến đấu giống như vị nữ tu và Catherine đã làm, hoặc có thể chúng ta phải hấp hối như Đức Giêsu, nhưng nếu chúng ta làm như họ, chúng ta cũng sẽ mang hoa trái về cho Thiên Chúa và được sống vĩnh cửu.

Điều quan trọng là biết đặt cuộc sống chúng ta vào tay Thiên Chúa trong niềm tín thác trọn vẹn

Điều quan trọng là cứ để cho Thiên Chúa thực hiện bất cứ điều gì Ngài muốn đối với cuộc đời của chúng ta. Và đó chính là Tin Mừng trong bài Phúc Âm hôm nay.

Tin Mừng đó là nếu chúng ta bắt chước hạt lúa mì và biết "chết cho chính mình", chúng ta cũng sẽ đem lại nhiều hoa trái. Tin Mừng đó là nếu chúng ta bắt chước gương chị nữ tu, bà Catherine Marshall, và gương Chúa Giêsu, chúng ta cũng sẽ mang lại hoa trái cho Thiên Chúa và đạt được sự sống đời đời.

Chúng ta hãy cầu nguyện để kết thúc. Xin anh chị em cùng im lặng cầu nguyện với tôi.

Lạy Thiên Chúa là cha chúng con. Trong khi chúng con chuẩn bị cùng bẻ bánh với nhau, xin hãy giúp chúng con nhận ra rằng.

Nếu những hạt lúa mì không bị xay thành bột và nếu những trái nho riêng lẻ không bị ép thành rượu, chúng con sẽ không thể chia sẻ với nhau tiệc thánh này.

Xin giúp chúng con bắt chước hạt lúa và chùm nho, biết dâng chính đời sống chúng con cho Ngài để tuỳ Ngài định đoạt theo thánh ý Ngài.Amen.

Thánh Ca : Tình Con Yêu Chúa


THƯA VÂNG VỚI CHÚA
Msgr. Edward Peter Browne
L. M. Gioan Trần Khả chuyển dịch

Mọi đứa trẻ, khi vừa biết nói, là biết ba chữ. Chữ thứ nhất là má hoặc ba, cha hoặc mẹ, tùy thuộc ở ba hay má ai là người đến trước. Chữ thứ ba mà đứa trẻ học nói được và tiếp tục dùng nó qua suốt đời đó là chữ “không.” “Không!” Các bạn nghe thấy ở nhà thờ, đứa trẻ muốn làm điều này hay điều nọ và cha mẹ nói, “Không, con không được làm thế” và đứa trẻ sẽ “oa, oe nhè ra khóc và la hét tỏ ra bất đồng. Hoặc nếu các bạn đi ra ngoài nhà thờ bây giờ, tôi chứng kiến mỗi Lễ Chúa Nhật, vài cha mẹ rất trọng trách nhiệm luôn chạy đuổi theo con khắp cùng. Cha mẹ nói với đứa con, “Ngưng” và đứa trẻ cứ chạy đi và nói ,”Không.” Khi đến lúc đi học ở nhà trẻ và được bảo đứng xếp vào hàng, đứa trẻ nói, “Không” và bỏ chạy ra ngoài hàng. “Con đã làm bài chưa?” “Không, con chưa làm bài.” “Mang rác đi đổ.” “No.” “Không được đi chơi khuya, phải về nhà lúc 10 giờ tối.” “Không, con không chịu.” Cứ như thế ở mọi giai đoạn của cuộc đời. Người ta tiếp tục nói, “Không.” Họ nói “không” đối với cha mẹ; nói không đối với thầy cô; nói không đối với xã hội; nói không đối với Thiên Chúa. Liên tục nói tiếng “không” với Thiên Chúa. “Không, tôi sẽ không phục vụ.”

Tai Họa của Bất Tuân

Trong sách Khải Huyền, chúng ta đọc thấy câu truyện về Qủi Sa-tan Lu-ci-phe. Lu-ci-phe ở trên trời là kẻ sáng láng nhất trong các thiên thần, nhưng vì lý do nào đó, hắn đã nói, “Không, tôi không chịu phục lụy.” Hắn đã bị đầy xuống hỏa ngục, và tất cả những ai theo hắn cũng bị đầy xuống hỏa ngục với hắn. Từ ngày đó, Sa-tan và những kẻ theo hắn tiếp tục thuyết phục các bạn và tôi cùng mọi người khác nói tiếng “Không” với Thiên Chúa. Nổi loạn, bất đồng, không chấp nhận lề luật mà Thiên Chúa đã ra cho chúng ta. Người ta liên tục nói “không, không, không. Tôi không chịu vâng phục.” Không là một vấn nạn trong xã hội của chúng ta. Xã hội được thiết lập trên căn bản của một quyền bính và xã hội không thể hoạt động hữu hiệu nếu người ta không chịu khuất phục quyền bính đó. Có pháp luật trong xã hội, trong chính phủ, và người ta nói, “Không, tôi không chịu tuân theo pháp luật.” Người ta lỗi phạm đủ thứ pháp luật và gây trở ngại cho xã hội. Chúng ta dường như không thể sống hoà đồng. Người ta hành xử nhau bởi vì họ liên tục nói tiếng “không” đối với quyền bính.

Triệu Chứng Bất Tuân

Tình trạng đó hiện diện trong chính mỗi người chúng ta, liên tục cám dỗ nói tiếng “không” đối với Thiên Chúa. Có một số nhân đức, các nhân đức đối thần Tin, Cậy, Mến. Các nhân đức trụ khác như khôn ngoan, công bằng, đức độ và đại đảm. Có những nhân đức phúc âm như khó nghèo, thanh khiết và vâng lời. Người ta không muốn vâng lời. Dường như nó đã được in sâu trong mỗi người chúng ta từ khi còn nhỏ. Chúng ta nói tiếng “không, không, không.” Và nó cứ tiếp tục như thế suốt cả đời. Chúng ta liên tục nói “Không, tôi không thích. Tôi bất đồng. Tôi không muốn tuân giữ.” Có những quyền bính hợp pháp cả ở ngoài xã hội đời cũng như trong nhà đạo, nhưng người ta không muốn tuân phục. Người ta liên tục nói “Không!”

Ở xã hội ngày nay ngay trong Giáo Hội cũng có những người bất đồng. Họ không cho là họ như vậy, nhưng họ thực là những người như thế. Đức Giáo Hoàng là người có quyền hợp pháp trong Giáo Hội và họ nói, “Không, chúng tôi không phải tùng phục ngài. Chúng tôi không phải quan tâm về ngài. Chúng tôi có ý kiến khác. ” Các Giám Mục Hoa Kỳ và thế giới nói, “Đây là giáo huấn của Giáo Hội,” và những người bất đồng nói, “Không, chúng tôi không thích như thế, chúng tôi muốn bất đồng ý kiến.” Người ta bất đồng ý kiến với các tín lý và các giáo huấn của Giáo Hội bởi vì “đó không phải là đường lối thực hành ngày nay.” Người ta chấp nhận việc phá thai, ngừa thai, sống buông thả, coi thường đủ mọi điều, ly dị, rồi tái hôn. Họ nói, “Không, chúng tôi muốn làm theo đường lối riêng của chúng tôi.” Chúng ta liên tục bị tấn công bởi tính yếu hèn của ý chí và được Thiên Chúa nhắc nhở để nói tiếng “Xin Vâng.”

Gương Tuân Phục

Trong bài đọc thứ nhất của Thánh Lễ hôm nay, Tiên Tri Giê-rê-mi-a đã nhắc bảo dân chúng rằng thời xưa Thiên Chúa lập giao ước với dân của Ngài. Ngài đã sai Mai-sen đến và trao cho họ tấm bia đá với Mười Giới Răn, và dân chúng đã chối không nhận. Họ đã nói “Không!” Họ đã bất tuân, và bất tuân và tiếp tục bất tuân. Bây giờ Chúa Giêsu Kitô đến với thế giới và Ngài nói với chúng ta rằng Ngài sẽ viết những giới răn này vào lòng chúng ta, không phải chỉ ở trên bia đá, nhưng trong lòng, nhờ đó chúng ta biết đúng biết sai. Nó đã được ghi khắc vào trong nội tâm chúng ta. Thiên Chúa đổ vào trong chúng ta ơn thánh của ngài ngày chịu phép thánh tẩy và chúng ta biết cái gì đúng cái gì sai. Tuy thế, người ta lại cố gắng thỏa mãn ý riêng bằng cách liên tục nói tiếng “Không!” đối với Thiên Chúa. “Không tôi sẽ không tuân phục!” Chúa Giêsu Kitô đã đến trần gian trong tinh thần tuân phục đối với Chúa Cha. Ngài đã trao hiến chính bản thân trong tinh thần tuân phục Chúa Cha để chúng ta có thể có đời sống viên mãn, để chúng ta được cứu rỗi. Ngài đã làm gương cho chúng ta, “Thầy là người đã vâng phục.” Chúa Giêsu Kitô vâng phục Chúa Cha trong mọi sự, đến nỗi đã bằng lòng hy sinh mạng sống của ngài. Và bây giờ ngài nói với chúng ta rằng điều này đã được khắc ghi trong lòng của các bạn qua ơn sủng của Thiên Chúa và các bạn phải học vâng lời Thiên Chúa Cha trong mọi sự. Nếu nó có nghĩa là phải hy sinh ý riêng, lòng ham muốn riêng, thì các bạn thưa “Xin vâng.” Chúng ta cần phải ngưng nói tiếng “Không.” Chúng ta cần phải nói tiếng “Xin vâng” với Thiên Chúa, nói “xin vâng” đối với Chúa Giêsu Kitô để nhờ đó chúng ta có thể chia sẻ trong sự vinh quang và hạnh phúc của ngài.

Do đó trong thời gian hai tuần còn lại của Mùa Chay, tôi muốn xin các bạn dùng thời giờ để thỉnh thoảng suy niệm. “Có phải tôi thường nói “Không” với Thiên Chúa? Đi lễ đúng giờ. “Không.” Ở lại cho đến hết lễ. “Không.” Đi xưng tội. “Không.” Rước Lễ. “Không.” Đó có phải là não trạng của tôi hay là tôi sẽ làm theo ý của Thiên Chúa? Tôi có đồng ý đón nhận ý của Thiên Chúa hơn là theo ý riêng? Chỉ khi nào các bạn chấp nhận theo ý của Thiên Chúa hơn là theo ý riêng của mình thì các bạn mới tìm thấy sự sung mãn của đời sống và sự hoàn thiện dẫn đưa đến ơn cứu độ. Xin Chúa chúc lành cho các bạn. Amen.

Thánh Ca : Bao La Tình Chúa