Trang

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2011

Nghe đọc audio truyện: Rô-Bin- Xơn Cơ-Ru-Xô - Đa-Ni-En ĐêPhô



Tác phẩm : Rô-Bin- Xơn Cơ-Ru-Xô
Tác giả : Đa-Ni-En ĐêPhô
Người dịch : Hoàng Thái Anh

Rô-Bin-Xơn Cơ-Ru-Xô được sáng tác dựa trên một câu chuyện có thật về một chàng thủy thủ bị đắm tàu trôi dạt vào một hoang đảo. Để tránh thú dữ, anh phải làm nhà, dựng lũy, đào hang. Để có lương thực, anh tìm cách bắn chim, săn thú, câu cá và trồng lúa với mười hai hạt thóc. Dùng da thú để làm quần áo, điền lịch bằng cách vạch lên khúc cây, rồi tự làm đồ gốm, đan lát rổ, thúng... Cứ như thế, chỉ với một con chó và một con vẹt làm bạn, cho đến khi trở về quê hương, Rô-bin-xơn đã trải qua hai mươi bảy năm trên đảo.

Với bản năng sinh tồn và nghị lực phi thường , Rô-Bin-Xơn Cơ-Ru-Xô đã đấu tranh với cái đói, cái rét vượt qua bao khó khăn thiếu thốn, đối đầu với bao hiểm nguy, và cả những thế lực siêu hình của thiên nhiên bằng lòng dũng cảm. Ông đã trở thành biểu tượng chính về lòng dũng cảm, ý chí chinh phục thiên nhiên của con người.

Ngay khi ra đời vào năm 1719, RÔ-BIN-XƠN CƠ-RU-XÔ đã đợc đón nhận và phổ biến rộng rãi. Chỉ trong năm đầu tiên, tác phẩm này đã được tái bản tới bốn lần. Trong những năm tiếp theo, nó đã lôi cuốn được lượng độc giả bằng tất cả các tác phẩm Anh ngữ xuất bản cho đến lúc đó. Tới cuối thế kỉ XIX, với hơn 700 phiên bản, kể cả truyện tranh, chưa cuốn sách nào trong lịc sử văn học phương Tây lại có nhiều ấn bản, thu được nhiều lợi nhuận và có nhiều bản dịch hơn tác phẩm này.

Mời các bạn bước vào thế giới phiêu lưu, mạo hiểm của chàng thủy thủ qua tác phẩm Rô-Bin-Xơn Cơ-Ru-Xô. Mời xem truyện tại đây, nghe theo Sách Nói tại đây

Nghe truyện theo YouTube tại đây



Mời các bạn xem bộ phim này



Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2011

Nghe đọc audio truyện : Những đứa con của Thuyền trưởng Grant - Jules Verne




- Tác phẩm : Những đứa con của Thuyền trưởng Grant
- Tác giả : Jules Verne
- Người đọc: Đồng Linh

"Những đứa con của thuyền trưởng Grant" là cuốn tiểu thuyết thứ 5 và là một trong những tác phẩm hay nhất của J.Verne. Tiểu thuyết được in ra lần đầu tiên trong "Tạp chí giáo dục và giải trí" ở Pháp từ giữa năm 1866 đến đầu năm 1868, và đầu năm 1868 đã được xuất bản thành sách với tựa đề: Phần I: Nam Mỹ, Phần II: Nước Úc. Phần III: Thái Bình Dương ...

Bạn đọc hồi hộp theo dõi cuộc hành trình của hai đứa con đi tìm cha bị mất tích. Người cha ấy là thuyền trưởng Grant, một người Scotland yêu nước, không cam chịu để nước Anh nô dịch quê hương Scotland của mình. Theo ông, những lợi ích của xứ sở Scotland không thể phù hợp với lợi ích của người Anh, và ông đã quyết định thành lập một vùng di dân Scoland trên một hòn đảo ở Thái Bình Dương, để được hưởng quyền độc lập tự do. Chính phủ Anh đã ngăn trở việc làm của ông. Tuy nhiên thuyền trưởng Grant đã lựa chọn một đoàn thủy thủ và ra đi thực hiện ý đồ của mình ...

"Những đứa con của thuyền trưởng Grant" là cuốn tiểu thuyết thứ 5 và là một trong những tác phẩm hay nhất của J.Verne. Tiểu thuyết được in ra lần đầu tiên trong "Tạp chí giáo dục và giải trí" ở Pháp từ giữa năm 1866 đến đầu năm 1868, và đầu năm 1868 đã được xuất bản thành sách với tựa đề: Phần I: Nam Mỹ, Phần II: Nước Úc. Phần III: Thái Bình Dương...

Bạn đọc hồi hộp theo dõi cuộc hành trình của hai đứa con đi tìm cha bị mất tích. Người cha ấy là thuyền trưởng Grant, một người Scotland yêu nước, không cam chịu để nước Anh nô dịch quê hương Scotland của mình. Theo ông, những lợi ích của xứ sở Scotland không thể phù hợp với lợi ích của người Anh, và ông đã quyết định thành lập một vùng di dân Scoland trên một hòn đảo ở Thái Bình Dương, để được hưởng quyền độc lập tự do. Chính phủ Anh đã ngăn trở việc làm của ông. Tuy nhiên thuyền trưởng Grant đã lựa chọn một đoàn thủy thủ và ra đi thực hiện ý đồ của mình...

Trên đường thám hiểm, thuyền trưởng Grant đã gặp nạn và cầu cứu đất liền bằng cách thả chai thủy tinh xuống biển. Một trong những bức thư đó đã đến được bờ biển quê hương của thuyền trưởng Grant. Một đoàn thám hiểm được thành lập để đi tìm thuyền trưởng Grant, đoàn người đã trải qua nhiều sóng gió, thủy thủ nổi loạn, bị thổ dân bắt làm tù binh. Cuối cùng, bằng sự dũng cảm, mưu trí, đoàn tìm kiếm đã thoát khỏi nguy hiểm và tìm được thuyền trưởng Grant. Câu chuyện hấp dẫn với những tình tiết lý thú sẽ lôi cuốn độc giả, đặc biệt là những người thích phiêu lưu mạo hiểm.

Mời xem truyện tại đây , nghe theo nguồn Sách Nói tại đây

01. Jules Verne và "Những đứa con của thuyền trưởng Grant" - Phạm Hậu
02. Phần 1: Chương 1: Con cá búa
03. Chương 2: Ba lá thư
04. Chương 3: Malcolm-Castle
05. Chương 4: Đề nghị của huân tước phu nhân Glenarvan
06. Chương 5: "Duncan" rời bến
07. Chương 6: Hành khách buồng số sáu
08. Chương 7: Jacques Paganel từ đâu đến và đi đâu?
09. Chương 8: Vĩ tuyến ba mươi bảy
10. Chương 9: Trên độ cao ba ngàn sáu trăm mét
11. Chương 10: Trượt từ trên núi Andes xuống
12. Chương 11: Phát súng cứu nguy
13. Chương 12: Tiếng Tây Ban Nha của JacQues Paganel
14. Chương 13: Vùng Rio-Colorado
15. Chương 14: Những con sói
16. Chương 15: Ở đồn độc lập
17. Phần 2: Chương 1: Trở lại tàu "Duncan"
18. Chương 2: Mũi Bernouilli
19. Chương 3: Ayrton
20. Chương 4: Ra đi
21. Chương 5: Đường sắt từ Melbourne đến Sandhurst
22. Chương 6: "Báo Australian và New Zealand"
23. Chương 7: Kết cục đột ngột
24. Chương 8: "Aland Zealand"
25. Chương 9: Bốn ngày cực nhọc
26. Chương 10: Eden
27. Phần 3: Chương 1: Tàu "Macquarie"
28. Chương 8: Trong tay những người Maori
29. Chương 3: Những giờ cuối cùng
30. Chương 4: Núi thiêng
31. Chương 5: Giữa hai làn đạn
32. Chương 6: Vì sao "Duncan" chạy ven bờ phía đông New Zealand
33. Chương 7: Ayrton hay là Ben Joyce?
34. Chương 8: Bản giao kèo
35. Chương 9: Tiếng kêu trong đêm. Chương 10: Đảo Tabor
36. Chương 11: Trở về

Mời nghe theo YouTube tại đây


Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2011

Phúc âm Chúa Nhật - Lễ Mình Máu Thánh Chúa ( ngày 26/06/2011 )

Lời Chúa trong Thánh Lễ Chúa Nhật Mình Máu Thánh Chúa :


Nguồn : www.40giayloichua.net

Mời nghe bài giảng chủ đề :

"Mầu nhiệm Mình Máu Thánh Chúa "

"Mầu nhiệm Của Tình Yêu "

"Mầu nhiệm Thánh Thể "

THIÊN CHÚA LÀ LƯƠNG THỰC
Lm.Carôlô Hồ Bạc Xái

1. Tại sao Thánh Thể là của ăn?

Mỗi khi một nơi nào đó xảy ra nạn đói thì hầu như cả thế giới xúc động gởi thực phẩm đến tới tấp để cứu đói. Nhưng có mấy ai quan tâm đến những cái đói tinh thần: đói yêu thương, đói công bình, đói chân lý, đói tha thứ, đói cảm thông...? Mà loại đói sau này không ai cứu nỗi, ngoại trừ một mình Ðức Giêsu.

Tuy nhiên không phải hễ cứ rước lễ là chúng ta sẽ no. Muốn cho Ðức Giêsu thực sự trở thành của ăn bổ dưỡng thì chúng ta cần phải kết hợp với Ngài, cũng như cành nho có kết hợp với cây nho thì mới nhận được nhựa sống truyền sang.

2. Người đói mới cần ăn

Theo quy định của Giáo Hội, người đang mang tội trọng trong mình thì không được rước lễ. Ðúng vậy, vì rước lễ như thế là xúc phạm Mình Thánh Chúa.

Nhưng từ ý thức tôn trọng Mình Thánh Chúa trên đây, nhiều người đã vô tình xa cách thứ lương thực tuyệt vời Chúa ban: họ không dám rước lễ khi thấy mình yếu đuối về đức tin, chao đảo trong đức cậy và nguội lạnh về đức mến. Nghĩ vậy là sai, chẳng khác gì nghĩ rằng khi nào tôi đói thì tôi không được ăn.

Ngày xưa trong sa mạc, mặc dù dân Do Thái luôn làm Chúa buồn lòng, nhưng Ngài vẫn ban cho họ Manna mỗi ngày; Trong Thánh lễ đầu tiên ở nhà Tiệc ly, Ðức Giêsu đã cho tất cả các tông đồ rước Mình và Máu Ngài, mặc dù trước đó họ còn tranh cãi với nhau, và sau đó họ đã bỏ Chúa mà trốn chạy.

Ðúng là chúng ta bất xứng, và sẽ mãi mãi còn bất xứng với Mình Máu Thánh Chúa. Nhưng ý thức bất xứng ấy không được làm chúng ta xa cách thứ lương thực tuyệt vời cứu chữa cho ta bớt bất xứng.

Lạy Chúa, con chẳng đáng rước Chúa vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ lành mạnh.

3. Thánh Thể là bí tích thông hiệp

Ngày xưa ở giáo đoàn Côrintô có một thói quen tốt, đó là mỗi khi cử hành bữa tiệc Thánh Thể, tức Thánh lễ (Cena), người ta cũng tổ chức một bữa ăn huynh đệ (Agape): mọi người mang thức ăn đến góp chung để mọi người cùng ăn. Nhưng thói quen tốt này đã biến thành một tệ nạn là những người giàu đem nhiều thức ăn và toàn thức ăn ngon. Họ vội vã cùng nhau ăn trước, không chia sẻ cho những người nghèo. Bởi thế bữa ăn Agape này đã mất đi ý nghĩa yêu thương huynh đệ, trái lại là dịp gây chia rẽ đố kỵ nhau.

Thánh Phaolô rất buồn về tình trạng đó, nên trong đoạn thư này Ngài nhắc tín hữu mình nhớ đến ý nghĩa chung của bữa ăn: bữa ăn là dấu chỉ thông hiệp yêu thương. Tín hữu cùng tham dự một bữa ăn thì lẽ nào lại chia rẽ nhau? Huống chi trong bữa tiệc Thánh Thể, họ cùng ăn một thức ăn chung là Mình Máu Thánh Ðức Giêsu! Vì thế mỗi khi tham dự Thánh Lễ, họ phải lưu ý đến việc thông hiệp: chẳng những thông hiệp với Ðức Giêsu mà còn thông hiệp với nhau.

Hình như những ý nghĩa căn bản này không được chúng ta lưu ý lắm: mỗi khi dự lễ và rước lễ, nhiều người chỉ coi đó là một việc đạo đức mình phải làm. Họ không chú ý kết hiệp với Ðức Giêsu bao nhiêu; và càng không lưu ý thông hiệp với nhau bao nhiêu.

4. Bánh và những thứ đói

Ðức Giêsu là một thứ Bánh có thể thoả mãn mọi cơn đói của loài người:

Với những người theo Ngài trong sa mạc đã ba ngày và đang đói, Ngài đã cho họ bánh tự nhiên thỏa mãn cơn đói thể xác của họ.

Với người cùi bị mọi người ghê tởm lánh xa, Ngài đã cho anh bánh chữa lành cơn bệnh.

Với người phụ nữ nhiều chồng bên bờ giếng Giacóp, Ngài đã cho chị thứ bánh nhân ái làm thỏa mãn cơn đói muốn được chấp nhận.

Với những người tội lỗi, Ngài ban bánh thứ tha.

Với những người bị xã hội ruồng bỏ, Ngài cùng ăn với họ và ban cho họ bánh cảm thông để thỏa mãn cơn đói muôn được người ta nhìn nhận phẩm giá của mình.

Với người mẹ Naim đang đi chôn đứa con độc nhất của mình, và với Matta, Maria đang khóc vì Ladarô vừa mới chết, Ngài ban bánh sự sống cho người thân của họ sống lại.

Với người thu thuế Giakêu bấy lâu nay đã quen ăn cắp phần bánh của người nghèo, Ngài đến nhà và ăn cùng bàn với ông, ban cho ông bánh một đời sống mới tốt đẹp hơn.

Với tên trộm bên phải thập giá Ngài, Ngài ban cho hắn bánh hòa giải và một chỗ trên bàn tiệc thiên quốc.

Tuy nhiên, cũng có những người không rộng tay đón nhận bánh của Ngài:

Ðó là người thanh niên giàu có đã buồn bã bỏ đi khi Ngài khuyên anh từ bỏ tài sản.

Ðó là những người biệt phái và luật sĩ nhiều lần cố tình không muốn hiểu Tin Mừng của Ngài.

Ðó là dân thành Giêrusalem đã khiến Ngài phải khóc vì họ không đón nhận bình an Ngài mang tới.

Và đó là Philatô đã mỉa mai khi Ngài xứng mình là chứng nhân của Sự Thật.

5. Ý nghĩa tấm bánh

Tấm bánh mà hằng ngày ta dâng lên trên bàn thờ và sau đó rước vào lòng chứa đựng rất nhiều ý nghĩa:

Ðó là thành quả của biết bao công lao: của đất, của ánh mặt trời, của những giọt mưa, của lao động và trí óc con người.

Trước khi đến tay chúng ta, nó cũng đã qua tay người thợ gặt, người thợ xay và người thợ làm bánh.

Và được nhiên chúng ta không thể quên vai trò của Thiên Chúa tạo dựng và quan phòng.

Là một tấm bánh, nhưng nó là kết hợp của rất nhiều hạt bột từ rất nhiều hạt lúa rải rác trên các cánh đồng.

Bởi thế, khi chủ tế dâng bánh lên, ngài đã đọc: "Lạy Chúa là Chúa tể càn khôn, chúc tụng Chúa đã rộng ban cho chúng con bánh này là hoa màu ruộng đất và lao công của con người".

Còn Thánh Phaolô trong bài đọc II hôm nay thì coi tấm bánh ấy là biểu tượng của sự hợp nhất các tín hữu: "Chúng ta tuy nhiều người, nhưng chỉ là một thân thể, vì hết thảy chúng ta thông phần cùng một tấm bánh"

6. Chuyện minh họa

a/ Ðói tình thương

Nước Êthiôpia phải chịu một nạn đói khủng khiếp trong những năm 1984 đến 1986. Ðức Hồng Y Hume của giáo phận Wesminster kể về một câu chuyện xảy ra lúc ngài đến thăm xứ này giữa thời gian đó. Người ta đã dùng một chiếc trực thăng chở ngài đến một ngọn đồi nơi dân chúng đang tập trung chờ cứu trợ.

Khi ngài vừa bước xuống chiếc trực thăng thì một cậu bé khoảng 10 tuổi chạy đến níu lấy cánh tay của ngài. Em chẳng mặc gì ngoài một chiếc khố. Em cũng chẳng biết ngoại ngữ nên chỉ làm cử điệu tay chân: tay trái em chỉ vào miệng, và tay phải em cầm lấy tay ngài đặt lên má em.

Ðức Hồng Y hiểu: chỉ vào miệng nghĩa là em đói thức ăn, và đặt lên má nghĩa là em đói tình thương.

Người ta không chỉ đói thức ăn, mà còn đói nhiều thứ khác.

b/ Không thể hiểu được

Một người đến gặp linh mục và muốn khôi hài một chút về niềm tin của mình, nên anh hỏi: "Làm thế nào mà bánh và rượu trở nên thịt và máu Chúa Giêsu được?"

- Chẳng khó gì. Chính anh cũng biến đổi thức ăn thành thịt và máu. Tại sao Chúa Giêsu lại không làm được điều tương tự như vậy?

Chưa chịu thua, anh hỏi: "Bằng cách nào mà Chúa Giêsu ngự trọn vẹn trong tấm bánh nhỏ như vậy?"

- Cũng tương tự, quang cảnh bao la ở trước con mắt nhỏ bé của bạn.

Nhưng anh vẫn cố chấp: "Làm sao Chúa Giêsu có thể hiện diện ở tất cả các nhà thờ cùng một lúc?"

Linh mục cầm chiếc gương, đập bể nát, rồi cho anh nhìn vào và nói: "Chỉ có một mình anh nhưng bây giờ anh có thể nhìn thấy mặt mình được phản chiếu trong mỗi mảnh gương vỡ này cùng một lúc".

Lời Chúa cũng như Mình Máu Thánh Chúa Kitô là hai nguồn lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng đời sống đức tin của người kitô hữu. Lạy Chúa, xin cho chúng con hiểu rằng thánh lễ là trung tâm đời sống thờ phượng của Hội Thánh và của từng người chúng con, vì trong thánh lễ Hội Thánh dùng Lời Chúa để giáo dục đức tin của chúng con, và dùng Mình Máu Thánh Chúa để bồi dưỡng đời sống đức tin ấy. Xin cho chúng con siêng năng tham dự thánh lễ với ý thức đầy đủ, và rước lễ một cách xứng đáng.

Thánh Ca : Bao La Tình Chúa



LUÔN CÓ NHỮNG TÊN CHỈ ÐIỂM
Cha Mark Link, S.J.

Linh mục Walter Ciszek bị quân Nga bắt trong thế chiến thứ hai. Ngài bị kết tội là "Gián điệp Vatican" và phải qua 23 năm trong tù và trong các trại lao động Sibêria. Cuối cùng, khi ra khỏi tù, ngài viết lại một quyển sách về những kinh nghiệm của mình và đặt tựa cho nó là: "He Leadeth Me" (Người dẫn dắt tôi)

Một số câu chuyện cảm động trong cuốn sách nói về những hy sinh mà các tù nhân phải chịu để được nhận lãnh Mình Thánh Chúa Kitô ở trong tù. Ðặc biệt có một câu chuyện đáng ghi nhớ. Trước khi chia sẻ câu chuyện này với anh chị em, tôi xin trình bày bối cảnh của câu chuyện:

Vào những ngày xảy ra thế chiến thứ hai, tức là trước Công Ðồng Vatican II, giáo luật buộc kiêng ăn uống suốt 24 giờ đồng hồ trước khi rước lễ. Xin lưu ý điều này khi đọc đoạn văn sau trích từ quyển sách của Linh mục Ciszek:

"Tôi thấy các tù nhân phải bỏ bớt giấc ngủ cần thiết và thức dậy trước chuông rung để tham dự thánh lễ bí mật. Chúng tôi sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nếu bị khám phá đang hành lễ và luôn luôn lúc nào cũng có những tên chỉ điểm... Tất cả điều trên khiến cho những thánh lễ có đông tù nhân trở nên rất khó khăn, vì thế khi có thể chúng tôi thường truyền phép thêm bánh lễ để phân phối cho các tù nhân khác. Ðôi khi chúng tôi thường chỉ trông thấy họ khi chúng tôi trở về trại vào ban tối trước bữa ăn. Tuy vậy, những người này thường phải thực sự nhịn đói cả ngày và phải lao động cật lực mà không dám ăn một miếng kể từ bữa ăn tối chiều hôm trứơc chỉ với mục đích là để có thể rước Thánh Thể, điều này cho thấy Bí Tích Thánh Thể có ý nghĩa với họ biết là dường nào!" (Trích từ He Leadeth me của Walter Ciszek và Daniel Fatherly, bản 1973 của Walter J. Ciszek S. J).

Nói cách khác, trường hợp các tù nhân có thể sánh như vào giờ này hôm qua đến giờ này hôm nay anh chị em và tôi chẳng hề ăn uống gì cả, đồng thời chúng ta lại đang phải lao động vất vả trong thời tiết dưới không độ. Ðiều ấy cho thấy sự rước lễ có ý nghĩa biết bao đối với Linh Mục Ciszek và các tù nhân của ngài.

Câu chuyện trên thật thích hợp với lễ Mình Thánh Chúa Kitô hôm nay. Hai tiếng La Tinh "Corpus Christi" có nghĩa là "Thân Thể Chúa Kitô". Vào dịp lễ Mình Thánh Chúa Kitô này, chúng ta tôn vinh thân xác Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể.

Tại sao chúng ta dành riêng một ngày đặc biệt để tôn vinh "Mình Thánh" Chúa Kitô? Chúng ta đã chẳng tôn vinh Mình Thánh Chúa Kitô vào mỗi khi dâng Thánh lễ sao? Vậy tại sao lại có ngày dành riêng đặc biệt này?

Lý do chúng ta mừng lễ Mình Thánh Chúa Giêsu cũng chính là lý do khiến chúng ta mừng ngày dành riêng cho các bậc làm cha hôm nay. Bởi khuynh hướng con người chúng ta thường xem những tặng phẩm đặc biệt là điều dĩ nhiên, chẳng hạn như thân mình Chúa Giêsu hoặc các người bố của chúng ta.

Một trong những bi kịch lớn nhất của cuộc đời chúng ta thường đánh mất sự quí trọng đối với một vài tặng phẩm quí giá nhất mà chúng ta đang có. Tại sao vậy? Các nhà tâm lý học cho chúng ta hay là nếu chúng ta cứ phải chú ý đến từng âm thanh chúng ta nghe hoặc từng mầu sắc chúng ta thấy thì chắc chắn chúng ta sẽ phát điên lên. Vì thế để bảo vệ chúng ta khỏi sự điên khùng này, chúng ta liền thích ứng với những âm thanh và mầu sắc này, chúng ta đóng khung chúng khỏi ý thức mình. Chẳng hạn, nếu chúng ta nghe ai đó đánh máy trong phòng bên cạnh thì chúng ta sẽ để cho lỗ tai làm quen với âm thanh ngay. Các nhà tâm lý học gọi tiến trình này là "Quen thuộc hoá" (habituation).

Tuy nhiên cũng có mặt trái của sự quen thuộc này. Bởi vì chúng ta thường dễ có khuynh hướng làm ngơ trước mọi sự, chẳng hạn những buổi mặt trời lặn, những bông hoa, bè bạn, các bà mẹ, các ông bố và ngay cả Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Chúng ta đánh mất sự qúi chuộng và sự biết ơn về những điều ấy. Chúng ta xem đó như những điều đương nhiên.

Sự quen thuộc hoá này là một trong những lý do quan trọng khiến môn Thiền đã trở nên khá phổ biến. Mục đích của việc thiền định là giúp chúng ta tiêu trừ "sự quen thuộc hoá" này. nó giúp chúng ta ý thức trở lại vẻ đẹp của hoàng hôn, của bông hoa, của bè bạn. Trong thiền định, người ta cố gắng tập trung chú ý vào một đối tượng thân thuộc, chẳng hạn một bông hoa, như thể lần đầu tiên người ta trông thấy nó; hoặc tập trung vào một kẻ mình yêu mến chẳng hạn ông bố của mình như thể đây là lần sau cùng mình trông thấy ông và ao ước cho hình ảnh ông ấy trường tồn mãi trong tâm trí.

Ðiều này dẫn chúng ta đến với Mình Thánh Chúa Kitô. Lễ Mình Thánh Chúa Kitô đưa ra cho chúng ta lời mời gọi lẫn thách thức.

Trước hết là lời mời gọi. Mình Thánh Chúa Kitô mời gọi chúng ta tự vấn xem việc rước lễ có ý nghĩa gì với chúng ta? Chúng ta còn trân trọng việc ấy nhiều như khi chúng ta rước lễ lần đầu không? Việc rước lễ có ý nghĩa đối với chúng ta nhiều như đối với các tù nhân trong cuốn sách của Linh Mục Ciszek không?

Nếu câu trả lời của chúng ta là không thì chúng ta sẽ gặp một thách đố. Ðây cũng là sự thách đố dành cho các bậc làm bố đặt ra cho chúng ta. Thách đố đó là: "Làm thế nào chúng ta có thể tìm lại đựơc sự quí chuộng đối với phép Thánh Thể cũng như sự quí chuộng đối với bố mình? Làm thế nào chúng ta có thể phấn khích trở lại về cả hai tặng phẩm ấy?"

Một phương cách giúp chúng ta làm được điều đó là bắt chước các thiền sư. Chúng ta cố gắng suy niệm về Mình Thánh Chúa Kitô như thể lần đầu tiên chúng ta khám phá ra mầu nhiệm này.

Cách đây một ít năm, bà Emilie Griffin làm nghề quảng cáo ở Nữu Ước đã trở lại đạo Công Giáo. Bà có viết một cuốn sách hấp dẫn tựa đề Turning (Trở lại), trong đó bà bàn về lý do lôi kéo bà đến với đạo Công Giáo như sau:

"Lòng sùng mộ gia tăng đối với phép Thánh Thể và niềm tin vào việc Chúa hiện diện thực sự đã lôi kéo tôi đến nhà các nhà thờ thuộc Công giáo Rôma và trong khi lòng sùng mộ phép Thánh Thể càng gia tăng thì tôi lại càng bị lôi cuốn đến với Công giáo Rôma".

Như thế, chúng ta nên cố gắng suy niệm về bí tích Thánh Thể theo gương Emilie Griffin khi bà khám phá ra mầu nhịêm khôn dò này ngay trong lần đầu tiên.

Tôi xin được phép kết thúc bài giảng với hai gợi ý sau.

Thứ nhất, trong tuần lễ sắp tới, anh chị em hãy gia tăng lời cảm tạ Chúa Giêsu vào giờ kinh nguyện hằng ngày vì Ngài đã tặng ban Máu Thịt Ngài làm quà cho chúng ta.

Thứ đến, kể từ nay trong giờ lễ mỗi khi bước ra khỏi hàng ghế để lên nhận Mình Thánh Chúa, anh chị em hãy tập trung ý nghĩ một cách đặc biệt vào Ðấng mà anh chị em sắp lãnh nhận khi thừa tác viên Bí tích Thánh Thể nâng Bánh Thánh lên nói: "Mình Máu Chúa Kitô". Bởi vì:

Anh chị em sắp lãnh nhận thân xác sống động của Chúa Kitô.
Anh chị em sắp lãnh nhận chính Chúa Giêsu đã sinh ra ở Belem.
Anh chị em sắp lãnh nhận chính Chúa Giêsu đã chết trên thập giá.
Anh chị em sắp lãnh nhận chính Chúa Giêsu phục sinh từ cõi chết.

Khi anh chị em suy nghĩ về điều này, chắc chắn anh chị em khó thể nào tin nổi vì điều ấy thật khó mà tưởng tượng được, tuy nhiên nhờ đức tin chúng ta biết rằng điều ấy quả có thực. Chỉ một mình Thiên Chúa giàu lòng yêu thương mới có thể ban cho chúng ta một qùa tặng khôn tưởng như thế./.

Thánh Ca : Chúa Thương Con



CON ÐƯỜNG GIẢI THOÁT
Đỗ Lực OP

Vấn đề nghèo đói muôn đời vẫn ám ảnh nhân loại. Hiện nay, tình trạng nghèo khổ còn gắn liền với bất công và bất an toàn cầu. Bởi vậy, trong cuộc họp Thượng Đỉnh từ ngày 06.đến 08.6.2007 tại Heiligendamm, vùng biển đông của Đức quốc, các nước G-8 (gồm Đức, Pháp, Anh, Ý, Nhật Bản, Mỹ, Canada và Nga) đã đặt nặng vấn đề phát triển và tiêu diệt nạn nghèo đói, nhất là tại các nước Phi Châu.

Người nghèo cũng là mối quan tâm hàng đầu của Chúa Giêsu và các môn đệ. Họ quan trọng đến nỗi Chúa nhấn mạnh : “Tin Mừng được rao giảng cho người nghèo.” (Mt 11:5) Không giải quyết được vấn đề nghèo đói, thế giới không thể có hòa bình và tự do đích thực. Nhưng vấn đề lớn lao đó không thể chỉ giải quyết nhờ các giải pháp chính trị và kinh tế thuần túy. Cần đến một giải pháp toàn bộ mới mong giải thoát và nâng con người khỏi nỗi khốn cùng của kiếp nghèo hôm nay. Con người chỉ thực sự làm người khi vươn tới chiều kích Nước Thiên Chúa.

CHIỀU KÍCH NƯỚC THIÊN CHÚA

Trước khi làm phép lạ hóa bánh nuôi đám đông, Ðức Giêsu đã nuôi họ bằng Lời Chúa : “Người nói với quần chúng về Nước Thiên Chúa,” (Lc 9:11b) vì “người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra." (Mt 4:4) Lời Chúa xoay quanh “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14:17) Ðó là chiều kích của Nước Thiên Chúa. Chiều kích này vượt qua biên giới trần thế và đi sâu vào nội tâm. Chủ yếu là phải công chính như Cha trên trời (x. Lc 6:36). Ðó là một chiều kích siêu việt, nhưng không siêu thực. Chiều kích ấy trở thành một đòi hỏi khẩn thiết cho bất kỳ kế hoạch cứu đói giảm nghèo nào.

Ðể có thể nhìn thấy chiều kích đó, người môn đệ Chúa Kitô phải nhận ra trách nhiệm của mình đối với đám đông. Ðó là lý do tại sao trong phép lạ hóa bánh hôm nay Ðức Giêsu đã truyền các môn đệ phải đích thân đảm trách việc phục vụ quần chúng : "Chính anh em hãy cho họ ăn." (Lc 9:13)

Mặc dù đã nghe báo cáo đầy đủ tình hình quần chúng và khả năng hiện tại của các tông đồ, Đức Giêsu vẫn tin tưởng “cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông.” (Lc 9:16) Người nhận thức đó là những ân huệ Thiên Chúa. Ðức Kitô “cầm lấy,” “ngước mắt lên trời,” “chúc tụng” và “bẻ ra.” Ðó là những dấu chỉ một lương thực khác Chúa Giêsu sẽ làm trong tối Thứ Năm Tuần Thánh. Mỗi cử chỉ đều lặp lại trong đêm lập bí tích Thánh Thể. Như thế, trong phép lạ hóa bánh, Chúa muốn hướng người ta tới một chiều kích siêu việt là chính Mình và Máu Chúa, lương thực cần thiết cho sự sống vĩnh cửu. Như Ðức Giêsu cầm lấy bánh, chúng ta cũng có thể đang nắm chắc những thực tại cuộc sống trong bàn tay. Thế rồi, cùng với linh mục dâng của lễ trên bàn thờ, chúng ta dâng những thực tại đó lên Thiên Chúa. Khi được Thiên Chúa đón nhận, tất cả sẽ mang chiều kích toàn vẹn theo hướng của Người.

THÁNH THỂ : TÌNH YÊU GIẢI THOÁT

Tấm bánh từ cuộc đời chúng ta chỉ trở nên thân mình Chúa Kitô, khi được trao cho anh em. Chúng ta hãy dành chút thời giờ nhìn Ðức Kitô đang bẻ bánh – Mình Chúa – và ban cho ta. Tấm bánh – Mình Chúa – truyền từ tay này sang tay kia. Tấm bánh được phân phát, chia sẻ, nhân lên gấp bội. Thiên Chúa như bị tổn thương khi được trao vào tay con người.

Chúa Giêsu dấn thân. Người chấp nhận chết đi cho anh em mình được sống : chết vì tình yêu … vì tình yêu giải thoát ... Người đã hiến mình. Từ đó, mọi người có thể nhận được sự sống nơi Người. Ðó là trung tâm của mầu nhiệm vượt qua. Khi đón nhận Mình Chúa Kitô, chúng ta trở nên một với Người. Con người đang hiện diện trong tấm bánh trên bàn thờ cùng với Ðức Kitô. Ðó là động lực thúc đẩy ta dấn thân. Cũng như Chúa, cuộc sống chúng ta chỉ đạt tới chiều kích viên mãn, nếu chấp nhận cho tha nhân chiếm hữu hay làm một “tấm bánh bẻ ra cho mọi người.”

Làm sao có thể hy sinh như thế, nếu không kết hiệp thực sự với Chúa Giêsu Thánh Thể ? ÐGH Gioan Phaolô II tâm sự : “Thời gian ở lại với Chúa thật là vui thú, được nghiêng mình vào lòng Người như môn đệ yêu dấu (x. Ga 13 :25) và cảm nhận tình yêu vô hạn trong trái tim Người. Nếu trong thời đại này, điểm nổi bật nhất của Kitô hữu là ‘nghệ thuật cầu nguyện,’ từ tình yêu chân thành làm sao chúng ta không cảm thấy một nhu cầu canh tân để ở lại lâu giờ với Chúa Kitô đang hiện diện trong Bí Tích Cực Thánh này ? Anh chị em quý yêu, tôi rất thường có kinh nghiệm nầy và tôi đã múc lấy từ đó sức mạnh, niềm an ủi và sự nâng đỡ.” (1) Nơi Thánh Thể, Ðức Giêsu đích thực ngự giữa chúng ta, như xưa Người hiện diện giữa các môn đệ tiên khởi. Người hiện diện vì yêu chúng ta và muốn chúng ta hiệp nhất với Người trong tình yêu, để tha thứ tội lỗi chúng ta và để cuộc sống mới của chúng ta thăng tiến trong Người. “Bởi đấy, Giáo hội liên lỉ hướng về Chúa đang hiện hiện trong Bí Tích trên Bàn thờ, nơi Giáo hội thấy Người tỏ bày trọn vẹn tình yêu vô biên,” (2) để “Giáo hội múc lấy sự sống từ Chúa Kitô Thánh Thể. Giáo hội được Chúa nuôi dưỡng và soi sáng.” (3) Phải, trong Thánh Thể, mỗi người chúng ta được cải biến nên hình ảnh Ðức Kitô rõ nét hơn, để trong gia đình, xóm giềng, công sở và cộng đoàn, chúng ta có thể chiếu tỏa Chân Lý và Tin Mừng Sự Sống, Tình Yêu và Hy Vọng cho mọi người. Qua chúng ta, chắc chắn Chúa Kitô đến cứu chữa và tác thánh, hiệp nhất và kiện cường tất cả những ai đang sống sát chúng ta. Trong Thánh Thể, chúng ta càng trở nên Thân Thể Ðức Kitô tức Giáo Hội Người, một Giáo hội được sai đi làm Ánh sáng muôn dân, Cột trụ chống đỡ Chân lý và Ánh sáng chiếu soi niềm Hy vọng cho trần gian.

Trên đường trần thế, nếu không tham dự bữa tiệc của Chúa, làm sao người Kitô hữu có thể nuôi dưỡng đức tin, chữa lành thương tích, và trung tín đến cùng ? Chỉ có Mình Máu Chúa mới đẩy con người tới mức công chính như Thiên Chúa. Nếu không có lương thực thiên thần, chúng ta sẽ không thể tồn tại và tiến bước trên trần gian.

Thực tế, ngày nay có nhiều người khinh thường trước lời mời tham dự bàn tiệc thánh của Chúa. Giáo hội lo ngại trước tình trạng giáo dân không tham dự thánh lễ nữa, nhất là tại Âu châu. Thực ra, mỗi lần dâng thánh lễ, chúng ta hiểu biết kỳ công Ðức Giêsu thực hiện “cho chúng ta và đám đông” được cứu độ. Ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa kêu gọi chúng ta canh tân đức tin. Càng nỗ lực canh tân, chúng ta càng có khả năng đem Tin Mừng đến cho người nghèo. Ðó không phải chỉ là nỗ lực cá nhân nhưng cả cộng đoàn.

CHIỀU KÍCH XÃ HỘI TRONG THÁNH THỂ

Như thế, ngoài chiều kích thiêng liêng, Thánh Thể còn có tầm ảnh hưởng xã hội. Thực vậy, “trong mỗi Thánh lễ, Chúa mời gọi chúng ta hãy theo sát lý tưởng hiệp thông mà Công vụ Tông Ðồ mô tả như mô hình Giáo hội trong mọi thời đại. Ðó là Giáo hội quy tụ xung quanh các Tông đồ, được Lời Thiên Chúa mời gọi, có thể chia sẻ cả của cải thiêng liêng lẫn vật chất (x. Cv 2:42-47).” (4) Hơn nữa, “không những Thánh Thể là một hình thức diễn tả đời sống hiệp thông trong Giáo hội, nhưng còn là một kế hoạch xây dựng tình liên đới cho toàn thể nhân loại. Trong khi cử hành Thánh Lễ, Giáo hội không ngừng canh tân ý thức mình không những là một “dấu chỉ và khí cụ” giúp cho sự hiệp thông thân mật với Thiên Chúa, mà còn cho sự hiệp nhất toàn thể nhân loại. Khi tham dự thánh lễ, Kitô hữu tìm cách trở nên người cổ động tình hiệp thông, hòa bình và mối liên đới trong mỗi hoàn cảnh. Hơn bao giờ, thế giới đầy nhiễu nhương hôm nay, bắt đầu kỷ nguyên mới với bóng ma khủng bố và chiến tranh bi thương, đang đòi hỏi Kitô hữu học hỏi về hòa bình từ một ngôi trường vĩ đại là mầu nhiệm Thánh Thể. Dù đang nắm trách nhiệm gì trong đời sống xã hội, văn hóa và chính trị, họ đều được đào tạo nên những người cổ động công cuộc đối thoại và hiệp thông từ ngôi trường đó.” (5)

Qui tụ và hiệp nhất Giáo hội vẫn còn là bổn phận căn bản và hàng đầu của các môn đệ Chúa Kitô, hôm nay cũng như hôm qua. Chú ý tới những người yếu đuối và nghèo khổ nhất phải là ưu tiên số một. Những người này phải nằm ở trung tâm cộng đoàn, chứ không bị những người khỏe mạnh đẩy ra ngoài lề Giáo hội. Làm sao một cộng đoàn có thể là Giáo hội Chúa Kitô, khi những phần tử chỉ biết tiêu xài và sống cho mình, mà không quan tâm đến những người nghèo của Thiên Chúa ?

Người nghèo gồm đủ mọi thành phần hỗn tạp, lạc lõng, rải rác, và vô định hướng. Ðức Giêsu muốn biến họ thành những khách được mời tham dự một đại hội. Từ một “đoàn chiên không có người chăn dắt,” Người muốn làm thành một cộng đoàn tương tự dân Chúa trong sa mạc sống với manna. Người còn muốn qui tụ họ thành một Giáo hội phục vụ và loan báo Tin Mừng, một cuộc hiệp thông vào tiệc cưới Con Chiên thời cánh chung, khi nhân loại vui vẻ quây quần trong bàn tiệc Nước Thiên Chúa.

Giáo hội không phải là một tập thể vô tổ chức. Khi muốn nuôi sống muôn dân, Chúa qui tụ các môn đệ và truyền cho họ làm việc có tổ chức : “Anh em hãy bảo họ ngồi thành từng nhóm khoảng năm mươi người một.” (Lc 9 :14) Chúa sai các ông phân phát lương thực cho dân chúng. Các môn đệ đúng là những đầy tớ phục vụ dân Chúa. Khi làm bánh hóa nhiều, Chúa như sai từng tín hữu đi phục vụ, chứ không phải tìm cách hưởng thụ. Ðôi khi họ bị thử thách vì thiếu phương tiện chu toàn những trách nhiệm nặng nề. Nhưng, càng có tổ chức, càng dễ vượt qua những khó khăn trong công cuộc phục vụ.

Làm việc bác ái cũng thế. Nếu không có tổ chức, không thể đi xa được. Không phải bất cứ ai thiếu thốn về vật chất đều có thể gộp thành một nhóm với nhãn hiệu “người nghèo” để được trợ cấp như nhau. Nói khác, không nên phát chẩn hoàn toàn cho hết mọi người. Làm thế, công cuộc bác ái sẽ phí phạm rất nhiều. Nên nhớ, khi bữa ăn sắp kết thúc, Chúa truyền các môn đệ đi lượm những vụn bánh vung vãi khắp nơi (x. Lc 9 :17). Kết quả được mười hai thúng đầy, để có thể để bắt đầu một công cuộc khác. Việc bác ái cũng tương tự. Cần thu vén khéo léo, mới có thể cứu nhiều người.

Như các tông đồ tổ chức quần chúng theo lệnh Chúa, chúng ta cần phân hạng người nghèo. Có những người nghèo cần được giúp đỡ hoàn toàn. Nhưng cũng có những người nghèo vẫn còn khả năng sản xuất. Chỉ cần được cấp vốn, họ có thể tự nuôi mình và giúp đỡ người khác. Thực tế, người nghèo có thể nâng đỡ người nghèo. Cần khuyến khích họ dùng “số vốn” đã nhận đầu tư vào việc mưu ích cho mình và tha nhân.

Ðể có thể vực dậy cả một dân tộc đang chìm đắm trong cảnh túng cực về mọi mặt, cần thành lập một quỹ tín dụng bác ái cho người nghèo. Ðây là công cuộc bác ái thực sự, vì làm cho con người lớn lên trong sự tự tin và tin tưởng lẫn nhau. Từ đó, tinh thần trách nhiệm liên đới nảy sinh. Công cuộc bác ái phải nhằm nâng cao cả thể chất lẫn tinh thần mới thực sự là bác ái. Thực thế, sau mỗi lần Chúa chữa bệnh hay làm phép lạ hóa bánh hay hóa cá, dân chúng đều tôn vinh Thiên Chúa và nhận ra quyền năng lớn lao nơi Ðức Giêsu. Họ vang lời ca tụng Chúa, vì không phải chỉ được thỏa mãn nhu cầu vật chất, nhưng còn được hoàn toàn giải thoát về tinh thần nữa. Chỉ có bác ái toàn vẹn mới làm thay đổi cuộc sống và hướng con người lên tới Chúa.

Ngày xưa, khi làm phép lạ hóa bánh, không những Chúa nhằm nuôi dân chúng, nhưng còn đón tiếp, chữa lành và nói cho họ về Nước Trời nữa. Quỹ tín dụng cũng thế, không những giúp dân chúng có kế sinh nhai, mà còn làm cho họ có cơ hội thực tập đức công bình, bác ái, thành thật, trách nhiệm, tương trợ v.v. cần thiết cho công cuộc xây dựng quê hương phồn thịnh và dân tộc hạnh phúc.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con tìm thấy con đường giải thoát trong Bí tích Thánh Thể. Xin Thánh Thể Chúa trở nên nguồn sống, tình yêu và sức mạnh cho chúng con trong cuộc sống hôm nay. Amen.

Thánh Ca : Dấu Ấn Tình Yêu



Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2011

Nghe đọc audio truyện : Hoa hồng xứ khác - Nguyễn Nhật Ánh



Tác phẩm : Hoa Hồng Xứ Khác
Tác giả : Nguyễn Nhật Ánh

Hoa hồng xứ khác - là một trong những truyện viết cho lứa tuổi học trò hay nhất của Nguyễn Nhật Ánh ...

Câu chuyện bắt đầu khi Khoa lên thành phố học và kết bạn cùng 4 người bạn tốt.Câu truyện nhẹ nhàng vui vẻ với những tiếng cười và cả những bất ngờ ngoài dự tính của độc giả...

Trong truyện, Ngữ, Khoa và Hòa lé đều say mê cô bạn cùng lớp Gia Khanh. Cái cô gái bị ba người cùng theo đó sẽ phải làm sao. Ba anh chàng làm gì để “chiến thắng”. Điều lý thú là gần như tác giả tái hiện lại thời học trò của mình với ngôn ngữ thời bây giờ nên các bạn đọc trẻ sẽ tìm thấy hình bóng của chính mình trong đó.

Từ đầu đến cuối truyện hầu hết là những tiếng cười nhưng 1 chút tiếc nuối luôn là kết thúc quen thuộc của Nguyễn Nhật Ánh.

Hãy đọc và cảm nhận tại đây, hoặc tại đây và tại đây.

Mời nghe audio truyện theo Sách Nói tại đây, theo YouTube tại đây


Thứ Năm, 23 tháng 6, 2011

Nghe đọc audio truyện : Trại Hoa Vàng - Nguyễn Nhật Ánh



Hẳn bạn đọc ở lứa tuổi học trò đã từng quen thuộc với tác giả Nguyễn Nhật Anh với những truyện ngắn và truyện dài đậm chất học trò như: Trại hoa vàng, Chú bé rắc rối, Phòng trọ ba người, Bồ câu không đưa thư, Những chàng trai xấu tính, Cô gái đến từ hôm qua, Trước vòng chung kết, Hạ đỏ, Hoa hồng xứ khác, Buổi chiều Windows, Ut Quyên và tôi...

Với lối viết dung dị và cách chọn đề tài gần gũi với lứa tuổi học trò, như quan hệ thầy trò, trường lớp, bạn bè, gia đình... nên những truyện của ông chiếm được cảm tình của rất nhiều bạn đọc nhỏ tuổi. Họ hào hứng và nóng lòng đón đọc các trang viết của ông.

Xin giới thiệu với các bạn tác phẩm "Trại Hoa Vàng" , xem truyện tại đây hoặc tại đây,  các bạn có thể tải về tại đây .

Mời bạn nghe đọc truyện audio theo nguồn Sách Nói tại đây

Mời nghe theo YouTube tại đây


Thứ Tư, 22 tháng 6, 2011

Nghe đọc audio truyện : Khói Lam Chiều - Lưu Trọng Lư



"Là là sợi khói mỏng manh
Vấn vương mái rạ không đành chia xa"

Tác phẩm : Khói lam chiều
Tác giả : Lưu Trọng Lư

Lưu Trọng Lư là một hiện tượng thơ mới thời kỳ đầu với một hồn thơ sầu mộng, giàu nhạc điệu. Ngoài thơ, ông còn viết truyện và phát biểu ý kiến về văn học.

Tác phẩm chính trước cách mạng: Tiếng thu (tập thơ, 1939), Người sơn nhân (truyện 1933), Huyền không động (tập truyện,1936), Cầu sương điếm cỏ, Con voi ngà của vua Hàm Nghi (1936)...

Sau cách mạng có các sáng tác: Chiến khu Thừa Thiên (1949), Tỏa sáng đôi bờ (tập thơ, 1959), Chuyện cô Nhụy (1962), Người con gái sông Gianh (tập thơ, 1966)...

Khói lam chiều là một thiên truyện, gồm 2 truyện: Chiếc cáng xanh và Khói lam chiều

Các bạn có thể xem truyện tại đây hoặc tại đây

Mời nghe đọc truyện theo Sách Nói tại đây, nghe theo YouTube tại đây


Thứ Hai, 20 tháng 6, 2011

Phật giáo : Cõi âm có hay không ?



Phật giáo không bao giờ có khái niệm cõi âm hay là âm phủ. Có thể đây là những từ ngữ của tín ngưỡng dân gian, hay là của Lão giáo, không phải Lão giáo của cuốn Đạo Đức kinh mà là một thứ Lão giáo dân gian hóa.

Đối với vấn đề này, có thể có bốn thái độ và nhận thức khác nhau:

a. Thái độ của các nhà duy vật cổ cũng như hiện đại. Chết rồi là hết, không còn gì nữa; mọi chuyện xảy ra sau khi chết là chuyện tưởng tượng. Chủ thuyết này có thể dẫn tới một thái độ coi thường đạo đức, đề cao lối sống hưởng thụ, lối sống gấp.

b. Chủ nghĩa hoài nghi, thể hiện trong câu nói của Khổng Tử "Sống còn chưa biết thì biết chết làm gì?" hay là câu của triết gia Hy Lạp cổ đại Epicuya: "Khi tôi sống thì làm sao biết được chết là gì. Khi tôi chết rồi, lại càng không thể biết chết là gì".

c. Quan niệm của một số tôn giáo thần quyền. Người ta sống chết chỉ có một lần. Nếu sống tốt, theo đúng lời dạy của Thượng đế thì chết rồi sẽ lên thiên đàng cùng ở với Thượng đế. Nếu sống ác, trái với lời dạy của Thượng đế thì sẽ chết rồi xuống âm phủ ở với quỷ. Quan niệm như trên đối với một số người, (tôi không nói là đối với tất cả) dẫn tới một lối sống bức xúc, đầy mặc cảm, không rõ mình sống như thế này đã hợp với ý của Thượng đế hay chưa v.v...

d. Quan niệm sống, chết chỉ là hai mắt xích trong một chuỗi sinh tử dài vô tận, từ vô thủy cho đến ngày giải thoát tối hậu, con người đạt tới cảnh giới bất tử. Đây là quan niệm của đạo Phật và một số đạo giáo và triết thuyết ở Ấn-Độ. Người ta không phải sống và chết một lần. Có sống thì có chết. Chết là điều không tránh khỏi. Nhưng chết rồi lại sống một đời khác, và cứ như vậy luân hồi mãi cho tới ngày giải thoát tối hậu. Sự sống là bất diệt, nhưng nó mang nhiều dạng sống khác nhau ở các cõi sống khác nhau.

Trong khi chờ đợi khoa học phát minh ra được công cụ và phương pháp giao tiếp với các thân trung ấm trong cõi trung hữu, thì mọi thông tin về sự giao tiếp giữa con người sống với thân trung ấm chỉ có thể là những sự kiện rất cá biệt, hiếm có, có thể do những điều kiện như sau:

1. Bản thân người đương sự đã tu tập thiền định đến trình độ đạt được một số quyền năng thần thông, trong đó có thiên nhãn thông và thiên nhĩ thông, tạm dịch là mắt loài trời và tai loài trời. Có độc giả đã ví con mắt thịt của loài người như mắt một người ngồi trong nhà, xung quanh là bốn bức tường kín mít, chỉ trừ một lỗ nhỏ để cho con người nhìn qua đó. Và mắt loài trời đã được tác gỉa ví như mắt một người ngồi trên một tảng đá ở bờ biển, có thể nhìn xa tận chân trời góc biển (xem "The five eyes" (năm con mắt), T.Shen). Nhưng cuộc sống hiện đại nhộn nhịp hiện nay, đạt tới trình độ thiền định như vậy không phải là chuyện dễ. Vả chăng, nếu có người tu định đạt tới trình độ như vậy, thì họ lại không nói ra.

2. Có nhân duyên tiền kiếp đặc biệt khiến cho có sự giao cảm giữa người sống ở cõi người với những người đã chết, nhưng hiện đang sống ở một cõi sống khác, cao cấp hơn cõi người. Vì là thuộc một cõi sống cao cấp hơn, có quyền năng hơn chúng ta rất nhiều, cho nên họ có thể đến với chúng ta nhưng chúng ta không thể đến với họ đuợc. Họ có thể bày cho chúng ta cách thức làm như thế nào để họ giao tiếp với chúng ta. Nhưng đây là những trường hợp rất đặc biệt, giữa hai bên phải có những ân tình sâu sắc.

Tôi không thể tin là có một cõi sống đặc biệt dành riêng cho những người đã chết. Nghĩa là có các cõi sống khác nhau, nhưng không có một cõi nào của người đã chết cả. Không thể có cõi sống dành cho những người chết, đó là một mâu thuẫn ngay trong bản thân từ ngữ, một chuyện tưởng tượng, hoang đường. Đạo Phật công nhận có cõi sống trung ấm, nhưng đó là một cõi sống tạm thời, trung gian. Thân trung ấm cũng là một loại thân vật chất, tuy rằng đó là loại vật chất đặc biệt mà con mắt thịt của cõi nguời không thể thấy được. Nhưng đã là thân vật chất thì không thể tồn tại lâu được, nó cũng phải biến đổi và hoại diệt.

Khi mà khoa học chưa phát minh ra được những phương pháp và công cụ thích hợp để cho chúng ta có thể giao tiếp được với cõi trung ấm, thì chúng ta hãy chờ đợi. Mọi thông tin về cõi trung ấm, cũng như về các cõi sống khác, chúng ta không vội bác bỏ cũng không vội cả tin. Phải chăng đó là thái độ khoa học nhất hiện nay?

Mời theo dõi các bài thuyết giảng về vấn đề này của Thầy Thích Nhất Từ

1/ Thầy Thích Nhật Từ giảng tại chùa Xá Lợi, ngày 12/07/2009 , chủ đề : Đối thoại với người không tin đời sau , xem YouTube playlist tại đây



2/Thầy Thích Nhật Từ giảng Hội thảo khoa học nguyên cứu về tiềm năng con người tại viện bảo tàng quân khu 7, ngày 20/09/2009, chủ đề Điều cần biết về cõi âm , xem bằng YouTube tại đây



3/ Thầy Thích Nhật Từ giảng tại Chùa Hoa Nghiêm, Washington DC, ngày 12-08-07, chủ đề : Cõi Âm - Cõi Dương , xem YouTube playlist tại đây


Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

Nghe đọc audio truyện : Gánh Hàng Hoa - Khái Hưng và Nhất Linh



Tác phẩm : Gánh Hàng Hoa
Tác giả : Khái Hưng và Nhất Linh

Có thể nói GÁNH HÀNG HOA là một bài thơ tuyệt đẹp về tình yêu, tình bạn, tình người.

Một bài thơ... Vì khung cảnh của cuốn tiểu thuyết là một nơi nên thơ bậc nhất của Hà Nội: Làng hoa, trại hoa. Những khu vườn xinh xắn “trăm hồng ngàn tía đua tươi, muôn hương ngào ngạt” này đã gợi cảm hứng cho hơn một nhà thơ nhà văn.

Hôm qua đi hái mấy vần thơ
Ở mãi vườn tiên gần Ngọc Hồ

“Sự công bằng ngay thẳng bao giờ cũng sẵn có ở trong óc trẻ, nhất là khi sinh trưởng ở chốn bình dân, chúng lại nhờ được di sản thông minh của cha mẹ. Sự yêu công bằng ấy đã có lần khiến Minh vốn dĩ nhu mì mà đột nhiên trở nên can đảm”.

Mời xem truyện tại đây , tải về theo dạng lit tại đây

Mời nghe đọc audio truyện theo Sách Nói tại đây:

01. Hy Vọng - Khái Hưng và Nhất Linh
02. Hạnh Phúc - Khái Hưng và Nhất Linh
03. Sau Ngày Vui - Ngô Văn Phú
04. Hương và Sắc - Khái Hưng và Nhất Linh
05. Sáng và Tối - Khái Hưng và Nhất Linh
06. Hy Sinh - Ngô Văn Phú
07. Viết Báo - Khái Hưng và Nhất Linh
08. Trong Vườn Bách Thảo - Khái Hưng và Nhất Linh
09. Ánh Sáng - Khái Hưng và Nhất Linh
10. Khủng Hoảng - Khái Hưng và Nhất Linh
11. Hai Cảnh Mộng - Khái Hưng và Nhất Linh
12. Con Đường Cũ - Khái Hưng và Nhất Linh
13. Đời Vẫn Vui Vẫn Đẹp - Khái Hưng và Nhất Linh

Mời nghe theo YouTube tại đây


Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2011

Phúc âm Chúa Nhật - Lễ Chúa Ba Ngôi ( ngày 19/06/2011 )


Lời Chúa trong Thánh Lễ Chúa Nhật Ba Ngôi Thiên Chúa:


Nguồn : www.40giayloichua.net

Mời nghe bài giảng chủ đề :"Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi"



THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU
Lm.Carôlô Hồ Bạc Xái

1. Tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi có gì hay?

Có lẽ từ trước tới nay, chúng ta nghĩ tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi quá khô khan, như một công thức toán: một Chúa ba Ngôi, ba Ngôi một Chúa!

Nhưng có đi sâu vào nội dung tín điều này thì chúng ta mới thấy chúng ta thật hạnh phúc khi Thiên Chúa chúng ta thờ là Thiên Chúa Ba Ngôi:

Ngài là Cha chứ không phải là một vị thần độc đoán.

Chúng ta thờ Ngài, nhưng không phải trong tâm tình sợ sệt, mà trong tâm tình yêu mến như Ðức Giêsu, Con của Ngài.

Ngài không ở xa chúng ta, nhưng ở ngay trong lòng chúng ta, bằng Chúa Thánh Thần mà Ngài ban cho chúng ta.

Ngài là ba Ngôi, nghĩa là Ngài sống tập thể, yêu thương nhau, kết hợp với nhau và luôn trao ban cho nhau.

Do đó Ngài không phải là một mẫu khô cứng để ta tôn thờ, nhưng là một cuộc sống để chúng ta sống theo.

2. Sửa lại hình ảnh lệch lạc về Thiên Chúa

Lời Chúa hôm nay vẽ lên một hình ảnh Thiên Chúa rất dễ thương, có lẽ khác hẳn hình ảnh méo mó lệch lạc trong đầu chúng ta bấy lâu nay: Ngài là Thiên Chúa yêu thương, với những biểu hiện rất cụ thể của tình yêu

Yêu thương là Cho: "Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình cho thế gian"

Yêu thương là làm cho Sống và sống dồi dào: "... để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời".

Yêu thương là Tha thứ: Thiên Chúa mặc khải cho Môsê biết Ngài là "Thiên Chúa từ bi, nhân hậu, nhẫn nại, giàu ân nghĩa và thành tín".

Yêu thương là ở chung, sống chung, đi chung: Môsê đã nài xin và được Thiên Chúa chấp nhận "Dám xin Chúa cùng đi đường với chúng tôi". Thánh Phaolô cũng cho tín hữu Côrintô biết Thiên Chúa "sẽ ở cùng anh em".

3. Mầu nhiệm Ba Ngôi

Ai trong chúng ta cũng biết cầu chuyện về Thánh Augustinô ngày kia gặp một cậu bé đang cố sức lấy một chiếc vỏ sò múc nước biển đổ vào một cái hang. Thánh nhân đã chê cười cậu bé. Nhưng cậu đã đáp lại: việc tôi làm không đáng chê cười bằng việc Ngài muốn dùng trí khôn loài người để tìm hiểu mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.

Mầu nhiệm là sự thật vượt quá tầm hiểu của trí khôn loài người. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là chúng ta không thể biết tí gì về mầu nhiệm ấy. Mặc dù Ba Ngôi Thiên Chúa là một mầu nhiệm, nhưng Thiên Chúa cũng cho chúng ta hiểu biết đôi điều về mầu nhiệm ấy:

Ngài đã ban rất nhiều dấu chỉ trong vũ trụ thiên nhiên. Voltaire đã nói: "Chỉ cần mở mắt ra là ta nhận biết sự hiện hữu của Thiên Chúa". Abraham Lincoln giải thích rõ hơn: "Tôi không hiểu làm sao người ta có thể là người vô thần được khi nhìn xuống mặt đất. Tôi cũng không thể hình dung được một người nào đó nhìn lên trời mà nói rằng không có Thiên Chúa".

Qua những trang Sách Thánh, Thiên Chúa còn cho ta biết thêm rằng Ngài có Ba Ngôi là Cha, Con và Thánh Thần; rằng Ngài yêu thương loài người đến nỗi ban chính Con Một của Ngài cho chúng ta; rằng chúng ta được Ngài nhận làm con và có quyền gọi Ngài là Cha; rằng chúng ta có thể nói chuyện thân mật với Ngài khi cầu nguyện; rằng Ngài để dành sẵn hạnh phúc vĩnh cửu cho chúng ta trong nhà Ngài... Tóm lại là Ngài yêu thương chúng ta vô cùng.

4. "Hãy hôn chào nhau một cách thánh thiện"

Nụ hôn bình an trong Thánh lễ đã có từ thời Thánh Phaolô. Sau đó nó bị bỏ đi một thời gian. Rồi từ việc canh tân phụng vụ của Công đồng Vaticanô II, nó lại được tái lập.

Tại sao Hội Thánh tái lập nụ hôn bình an? Vì đó là một cử chỉ yêu thương, đoàn kết, thông hiệp. Cử chỉ này vừa biểu lộ niềm tin của chúng ta vào một Thiên Chúa Ba Ngôi yêu thương nhau, vừa nhắc nhở chúng ta phải sống yêu thương như Thiên Chúa chúng ta tôn thờ.

Khi hôn bình an trong Thánh lễ, chúng ta đừng thờ ơ chỉ làm cho xong một chi tiết lễ nghi phụng vụ, cũng đừng hôn nhau mà lòng còn đố kỵ nhau. Hãy hôn nhau "một cách thánh thiện" với nguyện ước sẽ hết lòng yêu thương người mình hôn theo gương mẫu tình yêu của chính Thiên Chúa.

5. Chuyện minh họa

a/ Thiên Chúa mời gọi

Một tu sĩ tên là Rublev đã vẽ một bức tranh rất đặc biệt về Ba Ngôi Thiên Chúa. Ba Ngôi ngồi quanh một cái bàn, và trên bàn có một đĩa thức ăn. Nhưng nét đặc biệt là có một chiếc ghế trống. Chiếc ghế trống ấy ngụ ý một sự mời mọc, một sự sẵn sàng. Bàn ăn của Ba Ngôi còn một chiếc ghế trống nghĩa là Ba Ngôi sẵn sàng đón tiếp bất cứ ai đến thông chia sự thân mật và tình yêu thương của các Ngài.

b/ Thiên Chúa ở trong ta

Một người dân gypsy đứng gần một cái giếng uống rượu. Chốc chốc ông lại nhìn xuống giếng như nhìn một người nào đó. Một cậu bé nảy giờ quan sát người gypsy này, ngạc nhiên hỏi:

- Ai ở dưới đó vậy?
- Thiên Chúa.
- Vậy cháu có thể nhìn Chúa không?
- Ðương nhiên rồi.

Thế rồi người gypsy bế cậu bé lên để cậu nhìn xuống giếng. Cậu bé:

- Nhưng cháu chỉ thấy mặt cháu thôi.
- Ðó cũng là mặt Chúa. Chúa ở trong chúng ta mà!

Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm của tình yêu: một tình yêu sáng tạo, một tình yêu cứu độ và một tình yêu thánh hóa. Lạy Chúa Giêsu, trong bữa Tiệc ly, Chúa đã để lại cho chúng con một điều răn mới: "Anh em hãy thương yêu nhau như chính Thầy đã yêu thương anh em". Xin Chúa ban ơn trợ giúp để chúng con có thể sống trọn vẹn điều răn mới này.

Thánh Ca : Bao La Tình Chúa



BA NGÔI THIÊN CHÚA
Cha Mark Link, S.J.

Một cô giáo lớp giáo lý giải thích cho học sinh về Thiên Chúa Ba Ngôi. Sau phần trình bầy, cô nói học sinh hãy viết bài trả lời cho câu hỏi này: “Trong Ba Ngôi, em thấy có liên hệ tốt đẹp nhất với Ngôi nào trong thời gian này?”

Tôi muốn chia sẻ với quý vị câu trả lời của ba học sinh. Một em trai viết:
Cha em và em không có sự tương quan gì hết. Em cần một người cha, và vì em không thể nói chuyện với cha em, em quay về với Chúa Cha trên trời. Nhiều khi em nói chuyện với Người về các vấn đề của em theo cùng một kiểu cách mà em muốn nói với cha em.

Một em gái viết:

Anh trai của em sống với cha em, còn em sống với mẹ. Từ khi cha mẹ em ly dị hai năm trước đây, chúng em không còn gặp nhau như trước. Không bao giờ em nghĩ rằng sẽ phải xa anh mình, nhưng sự thật là như vậy. Vì vậy, bây giờ, em muốn chấp nhận Đức Giêsu như một người anh.

Sau cùng, một em trai viết: Mới gần đây em cầu nguyện với Chúa Thánh Thần. Em sẽ lên đại học vào năm tới, và em không biết sẽ lấy môn gì. Em hy vọng Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng cho em. Dầu gì đi nữa, em cầu xin Người hướng dẫn em.

Tôi thấy những nhận xét này rất thành khẩn. Tôi cũng nhận thấy rằng điều đó khiến tôi tự hỏi mình, “Trong Ba Ngôi, tôi thấy có liên hệ tốt đẹp nhất với Ngôi nào?”

Vì vậy, trong ngày lễ Thiên Chúa Ba Ngôi, thật xứng hợp để chúng ta suy nghĩ về mầu nhiệm này và về học thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi.

Một cách cô đọng, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi nói rằng trong sự hiệp nhất của Thiên Chúa, có ba ngôi riêng biệt: Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần.

Ngôi Cha là Thiên Chúa, Ngôi Con là Thiên Chúa, và Ngôi Thánh Thần là Thiên Chúa. Tuy nhiên không phải ba chúa, nhưng chỉ có một Chúa.

Để giúp dân chúng có một ý niệm về Ba Ngôi, Thánh Y Nhã dùng thí dụ của một hợp âm. Nó tạo bởi vài nốt nhạc nhưng chỉ có một âm thanh.

Một văn sĩ tân thời dùng thí dụ nước. Nó hiện diện trong ba thể khác nhau – hơi, nước đá và mưa, đó là thể hơi, thể đặc, và thể lỏng – nhưng mỗi thể thì giống nhau về phương diện hoá học.

Nhớ rằng, đây chỉ là những so sánh mờ nhạt, nhưng chúng có thể giúp chúng ta biết quý trọng mầu nhiệm vô cùng cao cả của Ba Ngôi.

Trong Kinh Thánh, sự nhắc đến Ba Ngôi hiển nhiên nhất là trong câu sau cùng của Phúc Âm Mátthêu, khi Đức Giêsu dậy bảo các môn đệ:

“Hãy ra đi… đến với mọi người ở khắp nơi và hãy làm cho họ trở thành môn đệ của Thầy: hãy rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.”

Hình ảnh nhiều ấn tượng nhất trong Kinh Thánh về Ba Ngôi là khi Đức Giêsu chịu thanh tẩy. Thánh Luca viết:

Khi Đức Giêsu đang cầu nguyện, các tầng trời mở ra, và Chúa Thánh Thần ngự trên người dưới hình dạng chim bồ câu. Và từ trời có tiếng phát ra, “Con là con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về con.” (Luca 3:21-22)

Ba Ngôi thường được nhắc đến trong Phúc Âm Gioan. Thí dụ, Đức Giêsu nói về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong các đoạn như đoạn này:
“Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, Người sẽ ở với các con mãi mãi. Người là Thánh Thần, sẽ tiết lộ chân lý về Thiên Chúa” (Gioan 14:16-17)

Những câu nói như vậy làm giới cầm quyền Do Thái rất tức giận đến độ họ quyết định giết Đức Giêsu bởi vì “hắn nói rằng Thiên Chúa là Cha của hắn và như vậy coi mình ngang hàng với Thiên Chúa” (Gioan 5:18)

Hiểu biết thần học hấp dẫn nhất về Ba Ngôi thì được thấy trong Luca. Trong Phúc Âm Luca và trong sách Công Vụ Tông Đồ, hiển nhiên rằng thánh sử nhìn thấy lịch sử cứu độ trong viễn cảnh ba ngôi.

Với Luca, thời kỳ Cựu Ước là “thời của Chúa Cha.” Thời Phúc Âm là “thời của Chúa Con.” Và giai đoạn hậu Phúc Âm, được bắt đầu với lễ Pentecost, là “thời của Chúa Thánh Thần.”

Và sau cùng, chúng ta thấy rất nhiều ám chỉ về Ba Ngôi trong các thư của Thánh Phaolô. Tiêu biểu là lời chúc lành của thánh nhân trong bài đọc hai hôm nay. Thư viết:

Nguyện xin ơn sủng của Chúa Giêsu Kitô, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em. 2 Cor. 13:13

Điều này đưa chúng ta đến phụng vụ. Trong đó có vô số đề cập đến Ba Ngôi. Hãy suy nghĩ một vài điểm.

Chúng ta rửa tội và thêm sức “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.”

Hội Thánh cũng xức dầu bệnh nhân và tha tội cho hối nhân, “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.”

Tuy nhiên, trong Thánh Lễ, Ba Ngôi thường được nhắc đến nhiều nhất. Ngoài lúc bắt đầu và kết thúc “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.”, Thánh Lễ thì đầy dẫy những lời cầu xin với Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.

Tiêu biểu là kinh Tin Kính, mà chúng ta sẽ tuyên xưng trong giây lát. Kinh này có cơ cấu ba ngôi. Kinh khởi đầu với Thiên Chúa Cha là Đấng Tạo Hoá, đi sang Chúa Con và Đấng Cứu Thế, và chấm dứt với Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống.

Điều này đưa chúng ta trở về với câu hỏi mà cô giáo đã hỏi học sinh: “Trong Ba Ngôi, quý vị thấy có liên hệ tốt đẹp nhất với Ngôi nào trong thời gian này?”

Có phải chúng ta thấy liên hệ tốt đẹp nhất với Chúa, Đấng đã dựng nên chúng ta và yêu thương chúng ta hơn cả chính chúng ta yêu mình?

Hoặc chúng ta có liên hệ tốt đẹp nhất với Chúa Con, Người đã sống giữa chúng ta và đã chứng tỏ tình yêu dành cho chúng ta bằng cái chết trên thập giá?

Hoặc chúng ta thấy liên hệ tốt đẹp nhất với Chúa Thánh Thần, Đấng mà Chúa Cha và Chúa Con đã sai đến để hướng dẫn chúng ta đến đường chân lý và sự thánh thiện?

Hay chúng ta thấy liên hệ với cả Ba Ngôi trong một phương cách chung dưới danh hiệu là Thiên Chúa?

Hãy kết thúc với đoạn trích từ kinh Tin Kính Athanasia, có từ thế kỷ thứ tư:

Đây là đức tin Công Giáo…
Chúng ta thời phượng một Thiên Chúa trong ba ngôi
và ba ngôi trong một Thiên Chúa,
mà không lẫn lộn các ngôi
cũng không chia cách thần tính.
Vì Chúa Cha là một ngôi,
Chúa Con là một ngôi khác,
và Chúa Thánh Thần lại là một ngôi khác nữa.
Nhưng chỉ có một Thiên Chúa, Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần,
cả ba cùng ngang bằng vinh quang và uy nghi vĩnh viễn…
Đây là đức tin thực sự mà chúng ta tin…
Đây là đức tin Công Giáo.

Thánh Ca : Chúa Thương Con



CHÚA BA NGÔI, LỜI CÔNG BỐ CỦA LÒNG TIN
Msgr. Edward Peter Browne
L. M. Gioan Trần Khả chuyển dịch

Mở mạng lưới và bạn có www.comdashslash-pdq. Tôi nghĩ là một số trong quí vị hiểu chút ít về cái đó. Tôi chẳng hiểu tí nào về nó, thực sự hoàn toàn không hiểu. Tôi chẳng biết mạng lưới là cái gì. Tôi cũng chẳng biết tại sao họ lại để những dấu chấm hay những chữ viết com và pdq ở đó. Tôi chẳng có ý niệm gì. Đối với tôi nó là một huyền nhiệm. Nhưng bởi vì tôi không hiểu không có nghĩa là nó không có thật. Tôi tin chắc một cách nào đó nó có ảnh hưởng đến đời sống của tôi. Một người nào đó là www.pdqing ở nơi nào đó và nó sẽ ảnh hưởng đến việc chuyển thư tín hay một cái gì đó của tôi. Đối với tôi nó là một huyền nhiệm, nhưng chỉ vì nó huyền nhiệm không có nghĩa là nó không có thật, và chỉ vì tôi không hiểu không có nghĩa là nó sẽ biến đi.

Mầu Nhiệm Sự Thật

Hôm nay chúng ta nói về Chúa Ba Ngôi. Nó không phải là một ngày mừng lễ. Chúng ta mừng lễ Chúa Kitô Sống Lại, là một biến cố đã xẩy ra. Chúng ta mừng lễ Chúa Kitô Lên Trời, một biến cố đã xẩy ra. Nhưng Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi không phải là mừng một biến cố. Nó là một công bố của niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa. Chúng ta tin có Một Thiên Chúa và trong Một Thiên Chúa đó có Ba Ngôi, Cha, Con và Thánh Thần. Ngôi Cha là Thiên Chúa, Ngôi Con là Thiên Chúa và Ngôi Thánh Thần là Thiên Chúa. Tuy nhiên không phải là có ba Thiên Chúa, nhưng chỉ có Một Thiên Chúa. Các bạn có thể dành cả cuộc đời học hỏi mà chẳng bao giờ hiểu được. Tôi có một tập sách to dầy tám trăm trang để ở nhà, bằng tiếng La-tinh tất cả bàn về Chúa Ba Ngôi. Sách bắt đầu bằng câu “Ba Ngôi Thiên Chúa là một mầu nhiệm.” Đọc hết 800 trang và trang cuối cùng công bố, “Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm.” Có rất nhiều bàn luận, suy đoán thần học về vấn đề này và tất cả đều đưa đến kết luận “Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm.” Nó mầu nhiệm đối với việc nó xẩy ra như thế nào, nhưng nó lại không mầu nhiệm về sự thật; Chúa Ba Ngôi là một sự thật.

Đôi khi có thể dễ dàng để nói về cái không phải là Chúa Ba Ngôi hơn là nói về cái thuộc Chúa Ba Ngôi. Chúa Ba Ngôi không phải là ba Thiên Chúa. Nó không phải thứ nhất là Chúa Cha, rồi Chúa Con và đến Chúa Thánh Thần, nhưng chỉ là Một Thiên Chúa. Chúa Ba Ngôi không có nghĩa là Thiên Chúa tỏ mình ra ở ba cách khác nhau, thứ nhất là Cha, thứ đến là Con, rồi đến Thánh Thần. Không phải là như thế. Nó có nghĩa là Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần có từ đời đời, không tận cùng, thông biết mọi sự và toàn năng. Thiên Chúa Ba Ngôi tạo thành vũ trụ và chúng ta chẳng thể hiểu vũ tụ bao la như thế nào. Nhưng bởi việc làm của Thiên Chúa, Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần bạn và tôi được tạo thành. Và bởi hành vi của Bí Tích Hoà Giải, Thiên Chúa Ba Ngôi được đưa vào trong tâm hồn chúng ta, và bởi thế niềm tin căn bản là chúng ta có Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó là một niềm tin sâu xa và quan trọng chúng ta có trong đời sống, và chúng ta bày tỏ niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi mỗi khi chúng ta đọc kinh Tin Kính.

Ba Ngôi Hiện Diện

Ngay lúc khởi đầu trong mọi Thánh Lễ chúng ta bày tỏ điều Thánh Phao-lô nói trong bài đọc thứ nhất hôm nay: “Nguyện xin ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em.”

Đó chính là điều chúng ta phải suy niệm, sự thật là Chúa Ba Ngôi ở trong chúng ta. Đôi khi chúng ta nghĩ Thiên Chúa thật là xa vời ở ngoài. Thiên Chúa Ngôi Con đang ngự bên hữu Chúa Cha, và Chúa Thánh Thần thỉnh thoảng hiện đến như là chim bồ câu hay lưỡi lửa. Không phải vậy. Thiên Chúa Ba Ngôi ở trong chúng ta. Mỗi người chúng ta đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, đón nhận Thiên Chúa Ba Ngôi vào tâm hồn và vào toàn thể bản tính của chúng ta. Đó là niềm tin sâu xa nhất và do đó chúng ta phải uốn mình theo Thiên Chúa. Chúng ta không để Thiên Chúa phải uốn theo điều chúng ta nghĩ hay điều chúng ta muốn, hay điều chúng ta hiểu, nhưng chúng ta uốn mình theo Thiên Chúa và chu toàn ý của Thiên Chúa trong mọi sự, bởi vì Ngài là cùng đích cho sự hiện hữu của chúng ta.

Mỗi người chúng ta hiện diện cách riêng biệt trong Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa Ba Ngôi hiện diện trong mỗi người chúng ta. Ngài không phải là một đấng quyền phép vu vơ ở ngoài kia. Ngài ở đây trong chúng ta. Nó không phải là điều quan trọng để biết ngài là ai, là gì và ngài như thế nào bởi vì chúng ta chẳng bao giờ biết được.

Nhưng thật quan trọng để biết Ngài ở đâu. Ngài ở trong mỗi người chúng ta. Ngài đồng hành với chúng ta trong mọi bước đường của cuộc sống và như lời Tin Mừng, “Ai tin vào Ngài thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Gio 3:18). Tất cả đời sống của chúng ta phải được đào tạo chung quanh sự hiện diện của Thiên Chúa trong chúng ta. Chúng ta uốn mình theo Ngài.

Liên Kết với Chúa Ba Ngôi

Chúng ta nghe nói nhiều về việc bất đồng trong thời đại ngày nay. Người nào đó không hiểu điều này nên họ chối bỏ không chấp nhận. Người kia không thích luật lệ đó cho nên chối và không chấp nhận tất cả mọi chính sách khác. Chúng ta phải quan tâm đến việc chúng ta có uốn mình theo Thiên Chúa, Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần hay không. Nếu chúng ta uốn trí khôn và lòng muốn theo Ngài, chúng ta có sự bảo đảm rằng chúng ta sẽ được ơn cứu rỗi. Chúng ta sẽ được kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi vĩnh viễn muôn đời trên trời bởi vì chúng ta kết hiệp với Chúa Ba Ngôi lúc này trên dương thế. Sự hiệp nhất đó sẽ tiếp tục đến cõi hằng sống đời đời mà Thiên Chúa đã hứa ban cho chúng ta.

Khi chúng ta suy tưởng về Thiên Chúa Ba Ngôi và mỗi khi chúng ta tuyên xưng đức tin trong Thánh Lễ, hãy nhớ là chúng ta đang bày tỏ niềm tin của mình. Chúng ta tuyên xưng đức tin trong mọi Thánh Lễ. Chúng ta tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi và bày tỏ lòng ước ao muốn uốn mình theo ý của Thiên Chúa, Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần trong mọi sự. Do đó tất cả mọi ngày trong đời sống chúng ta nên bắt đầu như khi chúng ta làm dấu thánh giá để cầu nguyện: Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần. Mọi lời cầu nguyện và mọi công việc của chúng ta cũng nên kết thúc với Ngôi Thánh Thần, Ngôi Con và Ngôi Cha. Hãy nhớ Thiên Chúa ở trong chúng ta và chúng ta cần bày tỏ Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần cho mọi người chúng ta gặp gỡ. Xin Chúa chúc làn cho các bạn.

Thánh Ca : Dấu Ấn Tình Yêu


Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2011

Nghe đọc audio truyện: Dế Mèn phiêu lưu ký - Tô Hoài



Tác phẩm : Dế Mèn phiêu lưu ký
Tác giả : Tô Hoài

Dế Mèn phiêu lưu kí được xem là những trang văn mẫu mực của văn học thiếu nhi. Dường như mọi câu, đoạn, hình ảnh đều tác động mạnh mẽ đến tư tưởng tình cảm thẩm mỹ của người đọc.

Tác phẩm miêu tả cuộc phiêu lưu của một chú Dế Mèn qua thế giới loài vật và loài người. Những vấn đề nóng hổi như là: cái thiện và cái ác, chiến tranh và hòa bình, lí tưởng và lẽ sống được thể hiện một cách nhẹ nhàng, tinh tế mà sâu sắc.

Cậy mình là chàng dế cường tráng, Mèn dương dương tự đắc, cho mình là tay ghê gớm. Trải qua hai bài học đắt giá là cái chết của của dế Choắt và bị bác Xiến Tóc cắt đứt mất hai sợi râu mượt óng mà Mèn mới tỉnh ngộ, hiểu ra thế nào là lòng nhân ái và cái giá phải trả cho sự ngông nghênh của mình. Từ đó Mèn quyết chí đi chu du thiên hạ, chí hướng của Mèn càng được củng cố sau khi chú làm được việc có ích đầu tiên trong đời đó là cứu giúp chị Nhà Trò yếu đuối thoát nạn lũ nhện hung ác. Không những thế chú còn được sự ủng hộ hết lòng của mẹ kính yêu và kết giao được với người bạn tri kỉ là Dế Trũi. Từ đây cuộc đời Mèn rẽ lối sang một trang hoàn toàn mới mẻ, các em có muốn khám phá tiếp không nào?

Mèn đã trải qua những cuộc phiêu lưu vào thế giới các loài vật, vượt qua cơ man nào là rủi ro và biến cố, nhưng từng bước Mèn vươn lên tự điều chỉnh, tự nhận thức để trở thành con người giàu lí tưởng và ham hiểu biết với bản lĩnh kiên cường của một trai tráng đầu đội trời chân đập đất.

Chúng ta sẽ được lạc vào thế giới loài vật gần gũi, thân thương với toàn những con vật gắn chặt với đời sống thôn quê dân dã như: bác Xiến Tóc, Võ sĩ bọ ngựa, Châu Chấu Voi, Ếch Cốm, Chuồn Chuồn…

Tô Hoài chắc hẳn đã tốn không ít công sức tìm hiểu về thế giới côn trùng nhỏ bé, lấy cái thực, cái sự hiểu biết chính xác về đời sống và bản chất của từng con vật làm nền tảng chứ không phải tưởng tượng vu vơ. Chính lí do này đã khiến cho tác phẩm của ông luôn mang đến cho thiếu nhi một cảm giác đọc không bao giờ biết chán, mà càng đọc càng thấy hấp dẫn và nhớ tác phẩm của ông hơn.

Trước hết, Mèn đến với Vương quốc đầm lầy của đại vương Ếch Cốm và thầy đồ Cóc. Cư dân ở đây bằng lòng với cuộc sống trong bùn lầy nước đọng, họ tự thỏa mãn với cuộc sống đói nghèo tăm tối và khép kín. Ấy thế mà chỉ vì sự nghịch ác và coi thường xung quanh mà Mèn và Trũi suýt bỏ mạng ở cái sứ ảm đạm ấy khi bị cơ man nào là các loại Cá, Ếch Nhái, Cua Núi đuổi đánh. Đây quả là một tình thế vô cùng nguy cấp, vì lẽ gì mà Mèn và Trũi lại thoát được nhỉ?

Làng cỏ May – vương quốc của loài côn trùng có cánh – làng cao ráo, sáng sủa và đầy ánh sáng, cư dân ở đây cởi mở hiếu khách, giàu tinh thần thượng võ, luôn mơ ước về một cuộc sống hòa bình, muôn loài thương yêu giao lưu kết bạn với nhau. Tại đây Mèn và Trũi không chỉ được tiếp đón nồng nhiệt mà còn kết giao gặp được với những người bạn vô cùng tốt bụng và cùng trí hướng.

Họ hàng kiến tuy bé nhỏ nhưng lại vô cùng cần cù, chăm chỉ, xây đắp thành luỹ kiên cố nhằm chống lại mọi kẻ thù xâm phạm nhưng lại rất hiếu khách, sẵn sàng mở rộng cửa đón những người bạn tốt. Nhờ loài Kiến mà lời hịch: “Muôn loài cùng nhau kết thành anh em” được mang đi rãi khắp thiên hạ đấy các em ạ!

Tài năng của Tô Hoài thể hiện ở khả năng nắm bắt và mô tả đời sống tâm lí của lứa tuổi thiếu nhi và cả thanh niên. Ông đã “vẽ” nên một thế giới với muôn vàn những tình cảm mới lạ, những ham thích thiết thực và đầy phiêu lưu, những rung động tinh tế trước vẻ đẹp cuộc đời và thiên nhiên.

Nhà xuất bản Kim Đồng đã “nâng cấp” tác phẩm thiếu nhi bất hủ này lên tầm cao mới khi tái bản tác phẩm với một diện mạo đẹp mắt và thu hút. Với kích thước sách và cỡ chữ lớn, lớp bìa cứng dầy, chất lượng giấy tuyệt hảo và những tranh vẽ sinh động cuốn sách này sẽ trở thành người bạn chung thủy với thế hệ tuổi thơ của các em.

Các bạn có thể xem truyện tại đây .

Mời nghe audio truyện theo Sách Nói tại đây

01. Tôi sống độc lập từ thủa bé - Một sự ngỗ nghịch đáng ân hận suốt đời - Tô Hoài
02. Cuộc phiêu lưu bất ngờ - Làm đồ chơi cho trẻ con mà không biết - Lại anh xiến tóc cho tôi một bài học mới - Tô Hoài
03. Thoát khỏi cái lồng tù - Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha - Mẹ kính mến của con ơi! - Tô Hoài
04. Ông anh cả và ông anh hai của Mèn - Tri âm không đợi mà gặp - Tô Hoài
05. Một sự vô ý rất nguy hiểm - Địa thế và tình hình các xóm lầy lội - Vì lẽ gì mà mèn và trũi trốn đi được - Tô Hoài
06. Tranh hùng với võ sĩ bọ ngựa - Chánh phó thủ lĩnh tổng châu chấu - Tô Hoài
07. Tâm sự bác xiến tóc chán đời - Cái cớ khiến cho mèn lại lên đường - Tô Hoài
08. Mèn bị tù - Những sự xảy ra cho mèn khi phải giam trong hầm kín của lão chim trả - Xa nhau lại gặp nhau - Tô Hoài
09. Lại một chuyện rủi ro với các bạn kiến - Sự tức giận của mấy cô bé học trò - Ai có công nhất? - Tô Hoài
10. Mấy dòng tạm biệt của tập ký - Tô Hoài

Mời xem video kịch "Dế mèn phiêu lưu ký" , xem bằng playlist YouTube tại đây:



Mời xem kịch thiếu nhi: "Dế mèn phiêu lưu ký" theo YouTube tại đây


Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

Nghe đọc audio truyện : Liêu Trai Chí Dị - Bồ Tùng Linh



Đầu thế kỷ 18, Trung Quốc xuất hiện một cuốn sách truyện ngắn hết sức nổi tiếng “Liêu Trai Chí Dị”. Tác giả Bồ Tùng Linh dùng phương pháp đặc biệt miêu tả hàng loạt câu chuyện về hồ ly tinh và quỷ quái.

Bồ Tùng Linh (1640-1715) là nhà văn đời Thanh Trung Quốc. Ông xuất thân trong gia đình thương nhân, cả cuộc đời sống bằng nghề dạy học. Bồ Tùng Linh cả cuộc đời sáng tác nhiều tác phẩm văn học, cuốn truyện ngắn “Liêu Trai Chí Dị” là tác phẩm tiêu biểu của ông.

Cuốn “Liêu Trai Chí Dị” cả thảy có 431 bài, trong đó truyện ngắn nhất chỉ có 200-300 chữ, truyện ngắn với khuôn khổ dài có hàng nghìn chữ. Tác giả dùng phương pháp đặc biệt kể câu chuyện hồ ly tinh và quỷ quái để phê phán sự ràng buộc và cứng nhắc của lễ giáo phong kiến cũng như cái thối nát của chế độ khoa cử, chủ trương cá tính tự do. Trong cuốn sách, tác phẩm miêu tả tình yêu được độc giả ưa thích nhất. Những câu chuyện tình yêu này đa số viết về loài người và hồ ly tinh hoặc quỷ quái yêu nhau, bày tỏ nguyện vọng thanh niên nam nữ phá vỡ sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến.

Con cáo trong cuốn “Liêu Trai Chí Dị” đều xuất hiện với thân phận là thiếu nữ xinh đẹp hiền lành, trong đó, vai Tiểu Thúy trong truyện “Tiểu Thúy” nổi bật nhất. Truyện này có tình tiết khúc chiết, có sức hấp dẫn, tác giả dùng lối viết cao siêu xây dựng một hình tượng thiếu nữ ngây thơ, hiền lành, nhanh trí, được mọi người ưa thích. Trong phần cuối của câu chuyện, tác giả nói rõ cô Tiểu Thúy vốn là một con cáo con, vì mẹ nó từng lánh nạn ở nhà Vương Thái Thường, cho nên Tiểu Thúy biến thành hình dáng loài người để đền ơn nhà Vương.

Cũng là viết con cáo, trong truyện “Con cáo gả con gái”, Bồ Tùng Linh miêu tả trường hợp đầy tình cảm về gia đình con cáo gả con gái. Cả gia đình con cáo có phong độ tao nhã, coi một người bất ngờ xông vào nhà là quý khách để tiếp đón, khiến độc giả lãng quên mọi điều không may và trắc trở trong cuộc sống hiện thực.

Ngoài con cáo xinh đẹp ra, trong cuốn “Liêu Trai Chí Dị” cũng có con cáo mặt mũi xấu xí mà tính tình hiền lành. Truyện “Con cáo xấu xí” kể về một con cáo xấu xí tài trợ cuộc sống của cả nhà thư sinh bần cùng. Sau khi có quần áo đẹp đẽ, nhà ở thoải mái, thư sinh này lại mời một đạo sĩ để xua đuổi con cáo xấu xí. Con cáo xấu xí hết sức căm phẫn trước hành vị vong ơn bội nghĩa của thư sinh, không những đòi về mọi thứ dành cho thư sinh, mà còn dùng quái vật trừng phạt thư sinh. Tác giả mượn truyện này để lên án những hành vi xấu của loài người.

Trong cuốn “Liêu Trai Chí Dị” cũng có con cáo xinh đẹp mà tàn nhẫn. Trong truyện “Vẽ da”, con cáo mặc một chiếc da người đẹp đẽ, sống bằng hút máu người, tất nhiên cuối cùng con cáo này bị người giết chết.

Nói chung, trong cuốn “Liêu Trai Chí Dị”, Bồ Tùng Linh đã miêu tả nhiều hình tượng phụ nữ với thân phận là “con cáo”, cho chúng một số phẩm chất tốt đẹp mà loài người không có.

Cuốn “Liêu Trai Chí Dị” là một tác phẩm bất hủ trong lịch sử văn học Trung Quốc. Hai trăm năm nay cuốn sách này được dịch sang 20 thứ tiếng ngoại ngữ, lưu truyền trên khắp thế giới. Không ít truyện trong đó được cải biên thành tác phẩm phim ảnh, được khán giả ưa thích.

Các bạn có thể xem truyện tại đây

- Tác phẩm : Liêu Trai Chí Dị
_ Tác giả : Bồ Tùng Linh

Tải file về nghe trực tiếp trên iphone : 
Liêu Trai Chí Dị (Phần 2)

Nghe theo file wma   

Liêu Trai Chí Dị  (1).wma             

Liêu Trai Chí Dị  (2).wma             

Liêu Trai Chí Dị  (3).wma             

Liêu Trai Chí Dị  (4).wma             

Liêu Trai Chí Dị  (5).wma             

Liêu Trai Chí Dị  (6).wma             


Nghe trực tiếp bằng Hẻmradio tại đây

Mời nghe theo YouTube, Phần 1 tại đây, Phần 2 tại đây.
 
Mời xem phim "Liêu trai truyền kỳ" - (FULL 36 tập) tại đây
Diễn viên : Hồ Ca, Dương Mịch, Lâm Chí Dĩnh, Lý Băng Băng, Huỳnh Hiểu Minh, Hồ Khả, Lý Lập Quần, Vương Lộc Giang, Viên Hoằng, Dương Thừa Lâm, Hoắc Tư Yến



Mời xem phim "Tân Liêu trai chí dị" - (FULL 36 tập) tại đây
Diễn viên: Kiều Chấn Vũ, Hà Giai Yến, Hàn Tuyết, Trần Long, Lưu Đông, Từ Thiếu Cương, Lý Tông Hàn, Tưởng Mộng Tiệp.

Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2011

Phúc âm Chúa Nhật - Lễ Hiện Xuống ( ngày 12/06/2011 )

Lời Chúa trong Thánh Lễ Chúa Nhật Hiện Xuống:


Nguồn : www.40giayloichua.net

Mời nghe bài giảng chủ đề :"Chúa Thánh Thần "



CHÚA THÁNH THẦN LÀ NGUYÊN LÝ HỢP NHẤT
Lm.Carôlô Hồ Bạc Xái

1. Lưỡi lửa

Bài tường thuật của Sách Công vụ hôm nay là đối trọng của bài tường thuật tháp Babel thời Cựu Ước.

Ngày xưa, ở Babel, con cháu ông Nôe đang nói cùng một thứ tiếng, nghĩa là đang hiểu nhau và đoàn kết với nhau, bỗng dưng để cho tính kiêu ngạo xúi dục muốn xây một cái tháp cao hơn trời để tỏ ra mình cao hơn Thiên Chúa, nên đã bị phạt khiến họ nói nhiều thứ tiếng, người này không còn hiểu người kia nữa, và chia rẽ nhau. Chuyện tháp Babel ngụ ý rằng khi con người không quy tụ quanh Thiên Chúa thì sẽ chia rẽ nhau, không hiểu nhau và không thông cảm cho nhau.

Hôm lễ Ngũ tuần, Chúa Thánh Thần sửa lại sự hư hại đó: tất cả mọi người dù thuộc những dân tộc và những ngôn ngữ khác nhau nhưng đã hiểu nhau. Nhờ đâu? Nhờ chính Chúa Thánh Thần, nguyên lý đoàn kết và hiệp nhất.

2. Lưỡi lửa mà con người hôm nay cần

Nói là một sinh hoạt cần thiết trong cuộc sống chung: hằng ngày khi gặp người khác, chúng ta chào nhau, hỏi thăm nhau, trao đổi ý kiến với nhau, thảo luận, tranh luận v.v. Chính vì để phục vụ cho sinh hoạt cần thiết này mà khoa học kỹ thuật ngày nay đã phát minh ra máy khuếch âm, máy ghi âm, điện thoại v.v.

Nhưng nói với nhau là một chuyện, còn hiểu nhau là một chuyện khác. Hai chuyện này chưa hẳn luôn đi đôi với nhau. Nói với nhau thì nhiều nhưng hiểu nhau chắc không được bao nhiêu. Dịch một ngoại ngữ thì dễ hơn là hiểu được ý thật, lòng thật của người đang ở sát bên cạnh mình.

Có đặt mình trong bối cảnh như thế, chúng ta mới thấy được "lưỡi lửa" mà bài sách Cv hôm nay mô tả là cần thiết thế nào cho con người hôm nay. Ngày xưa, những người có mặt hôm lễ Ngũ tuần tuy nói nhiều ngôn ngữ khác nhau nhưng đều hiểu nhau. Ðó là hiệu quả bởi "lưỡi lửa" của Chúa Thánh Thần. Lưỡi hình lửa là tiếng nói của tình yêu. Tiếng nói chân thật nhất là tiếng xuất phát từ cõi lòng. Tiếng nói dễ hiểu nhất là tiếng của tình yêu.

Xin "lưỡi lửa" hiện xuống tràn đầy trong mỗi người chúng ta và trong cộng đoàn chúng ta.

3. Thổi hơi

Bài tường thuật tạo dựng loài người trong sách Sáng thế kể rằng sau khi Thiên Chúa đã lấy bùn đất nắn thành hình người, Ngài đã thổi hơi vào đó, và thế là con người đầu tiên xuất hiện. "Hơi thở" của Thiên Chúa chính là Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần là nguyên lý tạo dựng.

Nhưng con người đã phạm tội, bị đuổi khỏi vườn Ðịa đàng, hạnh phúc ban đầu đã bị đánh mất.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Ðức Giêsu lại thổi hơi trên các tông đồ. Phải chăng đây cũng là một đối ảnh của câu chuyện trong sách Sáng thế? Và nếu đúng là thế, thì hôm nay Thiên Chúa tái tạo lại con người, cũng bằng "hơi thở" là Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần cũng là nguyên lý của sự tái tạo.

4. Hiệp nhất trong đa dạng

Giáo Hội ngày nay là một Giáo Hội đa dạng: đủ thứ linh đạo, đủ loại dòng tu, đủ cách làm tông đồ, quá nhiều hội nhóm, quá nhiều khuynh hướng, quá nhiều ý kiến... Có những kẻ bi quan đã cho rằng Giáo Hội đang trong thời kỳ khủng hoảng. Nhưng thực ra, sự đa dạng này thể hiện một sức sống phong phú.

Nhưng miễn là đa dạng đừng dẫn tới chia rẽ và chống đối phá hại nhau. Miễn sao đa dạng mà vẫn hiệp nhất.

Muốn được như vậy, chúng ta phải lưu ý tới những giáo huấn rất sâu sắc của Thánh Phaolô trong bài đọc II hôm nay:

Mỗi người, mỗi nhóm hãy ý thức rằng "đặc sủng" của mình là ơn ban của Chúa Thánh Thần, chứ không phải là tài sản hay tài năng riêng của mình.

Ðừng khó chịu, trái lại hãy vui mừng khi thấy những người khác, nhóm khác cũng được ban cho những đặc sủng khác. Ðó là dấu Chúa Thánh Thần yêu thương Giáo Hội.

Tận dụng "đặc sủng" Chúa Thánh Thần ban để góp phần mình vào việc xây dựng Giáo Hội, đồng thời ý thức rằng đó chỉ là một phần nhỏ mình góp cho Giáo Hội nên vẫn tôn trọng phần góp của người khác và hy vọng Giáo Hội được nhiều người khác góp phần xây dựng hơn nữa.

5. Chúa Thánh Thần, Ðấng bị quên lãng

Chúa Thánh Thần là Ðấng bị quên lãng. Ðúng vậy, Thiên Chúa có 3 Ngôi là Chúa Cha Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Thế nhưng thường chúng ta chỉ nhớ tới Chúa Giêsu và Chúa Cha thôi, ít khi nhớ tới Chúa Thánh Thần

Thế nhưng Chúa Thánh Thần lại là Ðấng rất kỳ diệu, Ngài mà hoạt động nơi ai thì làm phát sinh biết bao điều kỳ diệu nơi người đó. Ngài mà hoạt động nơi nào thì cũng làm phát sinh biết bao điều kỳ diệu ở nơi đó. Xin đan cử 2 bằng chứng.

- Bằng chứng thứ nhất là đoạn sách CvTđ mà chúng ta vừa nghe: Chúa Thánh Thần hoạt động nơi các tông đồ. Trước đó các tông đồ đã từng theo Chúa Giêsu 3 năm, đã từng nghe biết bao lời dạy dỗ của Chúa Giêsu, đã từng thấy biết bao phép lạ của Chúa Giêsu. Nhưng con người của các ông hầu như chẳng chịu ảnh hưởng tốt nào cả: vẫn lo tranh dành quyền lợi, vẫn sợ chết nên trốn kín trong nhà. Thế rồi Chúa Thánh Thần ngự đến trên các công và sau đó các ông được biến đổi hẳn: nhiệt thành với Tin Mừng, can đảm rao giảng Tin Mừng. Có ai ngờ một người như Phêrô đã từng run sợ chối Chúa bây bẩy trước những tên đầy tớ của vụ Thượng tế mà bây giờ lại đứng ra trước một đám đông rao giảng hùng hồn khiến cho liền ngay sa đó có 3 ngàn người xin theo đạo.

- Bằng chứng thứ hai là một bức thư rất đặc biệt. Bức thư này là của một cô gái nước ngoài gởi cho một LM. LM này trước đó có biên thư cho cô gái để trình bày những khó khăn trong bổn phận của mình. Cô gái biên thư khuyên vị LM ấy hãy can đảm, hãy cầu nguyện và mỗi ngày hãy dâng lễ sốt sắng. Cô gái còn cho biết nếp sống hằng ngày của cô: ngoài những giờ làm ăn, cô tranh thủ thời giờ đi dạy giáo lý cho 2 lớp tại một trường học, buổi tối cô tham gia cầu nguyện với một nhóm giáo dân từ 8 đến 10 giờ. Một cô gái giáo dân mới hơn 20 tuổi mà nhiệt thành làm việc tông đồ như vậy và còn nhiệt thành đến nỗi dám đưa ra những lời khuyên dạy đối với một LM! Do đâu mà cô nhiệt thành sốt sắng như vậy? Thưa vì cô đang sinh hoạt trong một nhóm giáo dân giúp nhau sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

Nghe những bằng chứng trên, chắc chúng ta cũng mong muốn Chúa Thánh Thần hoạt động nơi chúng ta để làm những điều kỳ diệu nơi chúng ta. Nhưng làm sao để được như vậy? Xin đề nghị 2 điều:

- Một là chúng ta hãy cầu nguyện cùng với Chúa Thánh Thần. Chúng ta đã cầu nguyện rất nhiều. Nhưng khi cầu nguyện chúng ta chỉ nói cho Chúa biết mình đang sống như thế nào, mình đang cần những ơn gì và xin Chúa ban ơn đó cho ta. Cầu nguyện như vậy là sai lầm, vì đâu phải nhở chúng ta nói mà Chúa mới biết chúng ta cần gì. Chúa là Ðấng biết tất cả mọi sự kia mà. Ðiều quan trọng nhất không phải là ta nói cho Chúa biết ta muốn gì, mà là xin Chúa cho ta biết Chúa đang muốn gì nơi ta. Do đó ta phải cầu nguyện cùng với Chúa Thánh Thần, để Chúa Thánh Thần soi sáng cho ta biết ý Chúa và giúp ta sau đó làm theo ý Chúa. Có cầu nguyện như vậy thì sau đó cuộc đời ta mới biến đổi.

- Ðiều thứ hai có liên quan tới việc Xưng tội. Trong bài Tin mừng chúng ta vừa nghe, có một điểm hơi lạ. Ðó là Chúa Giêsu vừa ban Chúa Thánh Thần vừa ban quyền tha tội cho các tông đồ: "Chúng con hãy nhận lãnh Thánh Thần, chúng con tha tội cho ai... " Tại sao Chúa Giêsu ban Chúa Thánh Thần và ban ơn tha tội chung nhau? Thưa vì 2 điều đó liên hệ chặt chẽ với nhau. Nói cách khác, nếu chúng ta muốn lãnh Bí Tích Giải Tội cho có hiệu quả tốt thì chúng ta phải Xưng tội cùng với Chúa Thánh Thộn. Ta hãy nhìn lại cách xưng tội bấy lâu nay của chúng ta. Mỗi khi xưng tội chúng ta làm 5 việc: một là xét mình xem mình có những tội gì; 2 là sau đó đọc một kinh ăn năn tội; 3 là vào toà xưng tội, kể cho kỹ hết mọi tội đừng sót tội nào; 4 là nghe cho rõ Cha giải tội dạy đọc bao nhiêu kinh; 5 là trở ra đọc cho hết bấy nhiêu kinh đó. Rồi trở về. Kết quả như thế nào? Chúng ta thấy an tâm hơn đôi chút. Nhưng cũng sống bình thường như trước, cũng phạm lại bấy nhiêu tội ấy, lần sau đi xưng tội cũng xưng bấy nhiêu tội ấy. Nghĩa là hầu như không có gì thay đổi. Xưng tội cùng với Chúa Thánh Thần nghĩa là trong phần xét mình trước khi vào toà xưng tội, chúng ta hãy xét mình cùng với Chúa Thánh Thần, xin Ngài soi sáng cho ta chẳng những thấy được mình đã phạm những tội gì mà còn tại sao mình phạm những tội đó; xin Chúa Thánh Thần soi sáng cho ta thấy những tội mà mình không thấy, Td nhiều người đâu có nghĩ rằng việc mình đang tính kế hại người là có tội, nhiều người đâu có nghĩ việc mình sống ích kỷ với nhà hàng xóm là có tội. Xưng tội cùng với Chúa Thánh Thần nghĩa là sau khi xưng tội chúng ta xin Chúa Thánh Thần soi sáng cho ta biết từ nay mình phải sửa đổi như thế nào. Có như vậy mỗi lần chúng ta đi xưng tội xong, cuộc sống của mình mới thay đổi tốt đẹp hơn.

6. Chúa Thánh Thần, Ðấng biến đổi

Bài trích sách Tông đồ Công vụ thuật lại biến cố ngày Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các tông đồ có nhiều điều rất phi thường: gió thổi ào ào như giông tố, những cục lửa có hình như cái lưỡi đậu trên đầu mỗi vị, sau đó các tông đồ nói tiếng lạ nghĩa là chỉ cần nói một thứ tiếng mà đủ mọi sắc dân khác nhau đều có thể hiểu. Những điều phi thường đó khiến cho đám đông dân chúng bở ngỡ kinh hoàng... Rồi hàng ngàn người đã xin lãnh phép Rửa Tội...

Nhưng điều quan trọng không phải là những biến cố phi thường ngoạn mục đó, mà chính là một cuộc biến đổi bên trong các tông đồ, rất âm thầm nhưng lại rất toàn diện: các ông là những người đã từng sát cánh ngày đêm với Chúa Giêsu , cùng ăn,, cùng đi, cùng làm với Chúa Giêsu suốt 3 năm trời, được Chúa Giêsu dạy dỗ rất nhiều, được chứng kiến biết bao việc làm của Chúa Giêsu ... Nhưng vốn tầm thường các ông cũng vẫn còn là những kẻ tầm thường. Tầm thường đến nỗi Thầy vừa bị bắt là tất cả bỏ chạy tan hoang, trốn chui trốn nhủi trong phòng đóng kín cửa không ai dám ló đầu ra ngoài. Tại sao thế? Vì bấy lâu nay các ông đi theo Chúa với tính toán vụ lợi, các ông hiểu giáo lý của Chúa một cách phàm tục: Ði theo Chúa như đi theo một chính trị gia đang lên hương với hy vọng sau này tới ngày thành công sẽ được chia chác địa vị quyền lợi; Chúa dạy giáo lý về nước Trời mà các ông thỉ chỉ hiểu về một nước thế tục. Cái chết của Chúa Giêsu đã làn tiêu tan mọi tham vọng chính trị, những quyền lợi các ông mong chờ cũng thành mây khói luôn, và cả sự an toàn của bản thân các ông cũng đang bị đe doạ nữa. Vì thế các ông sợ sệt, ẩn trốn.

Khi người ta theo Chúa với đầu óc vụ lợi, thì người ta tầm thường

Chúa Thánh Thần đến làm một cuộc thay đổi toàn diện: thay đổi lối nghĩ, lối nhìn, lối hiểu, lối tính toán của các ông: Hiểu giáo lý của Chúa cách siêu nhiên hơn chứ không phàm tục như trước nữa; từ đó các ông quyết định vẫn theo Chúa nhưng không phải vì tính toán vụ lợi mà vì tình yêu hy sinh xả thân hoàn toàn. Cuộc thay đổi ấy đã giúp các ông hết tầm thường, biến các ông trở nên những kẻ trung thành, những cột trụ của Giáo Hội, đến nỗi dù đe doạ, dù tù đày, dù tra tấn, dù gươm giáo, các ông cũng vẫn can đảm và hăng say loan truyền niềm tin vào Chúa.

Ngày nay chúng ta mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, điều chính yếu chúng ta mong ước cũng không phải là có những hiện tượng lạ gió thổi ào ào, lưỡi lửa trên đầu và nói tiếng lạ.... mà chúng ta mong chờ chính sự biến đổi sâu xa và toàn diện ấy trong tâm hồn chúng ta.

Ðó cũng chính là ý tưởng của ÐGH Phaolô VI trong bài huấn dụ của ngài hôm 29.11.1972. Ngài mô tả trong Giáo Hội có nhiều người theo đạo chỉ vì óc vụ lợi và hiểu giáo lý một cách phàm tục. Chính vì thế mà theo ngài, Giáo hội ngày nay cần có một lễ Hiện Xuống mới, để xin trích dẫn nguyên văn lời ngài "làm cho Giáo Hội được sống động, như có một luồng gió thiêng liêng làm căng buồm con thuyền Giáo Hội, là nguồn suối bên trong ban tràn đầy ánh sáng và sức mạnh cho Giáo Hội..."

Chắc chúng ta cũng ở trong tình trạng của các tông đồ trước ngày được Chúa Thánh Thần Hiện xuống. Chúng ta cũng đã từng theo đạo mười mấy, hai ba chục năm trời, đã từng Rửa tội, đã bao nhiêu lần xưng tội rước lễ, đã từng lãnh bí tích thêm sức, đã bao nhiêu lần nghe giảng dạy đủ mọi điều giáo lý, Tin mừng.. nhưng con người của chúng ta vẫn cứ mãi tầm thường. Ðầu óc chúng ta còn đầy tính toán vụ lợi và tinh thần phàm tục: chúng ta theo đạo để xin Chúa ban ơn cho mình, được làm ăn thành công, được khỏi nỗi buồn khổ này, được đạt đến niềm mơ ước kia. Rồi khi nào cầu xin không được hay cứ gặp khốn khó thì ta chán muốn bỏ đạo, khi gặp nguy hiểm thì ta trốn chui trốn nhủi, không dám đến nhà thờ như các tông đồ xưa trốn kín trong phòng không dám ló đầu ra. Chúng ta cũng cắt nghĩa giáo lý theo kiểu cách phàm tục, không muốn tin những điều siêu nhiên, mầu nhiệm về Thiên Chúa, về linh hồn, về thiên đường hoả ngục, về bí tích; chúng ta đòi hỏi Giáo Hội có những giải pháp dễ dãi cho cuộc sống và chống đối những chỉ dẫn của Giáo Hội mà ta cho là khắt khe, chẳng hạn về việc vợ chồng ly dị, về các phương pháp ngừa thai v.v....Tóm lại, giữ đạo một cách vụ lợi và phàm tục như thế nên cuộc sống đạo của chúng ta nó thờ ơ, thụ động, dật dờ làm sao ấy. Ta sống đạo nhưng sống như một cái xác không hồn, không hứng khởi.

Muốn cho các xác lờ đờ này thực sự có sức sống sinh động, nghĩa là muốn cho cuộc sống đạo của chúng ta được hăng hái, tích cực, phấn khởi, thì cần phải có Chúa Thánh Thần hiện xuống trên chúng ta. Chúa Thánh Thần sẽ biến đổi chúng ta toàn diện như các tông đồ ngày xưa: làm cho chúng ta hiểu giáo lý Chúa một cách siêu nhiên hơn chứ không phàm tục như trước làm cho chúng ta theo Chúa không phải vì vụ lợi muốn được điều này điều nọ mà chi vì chúng ta thực sự tin Chúa, yêu Chúa và sẵn sàng hy sinh tất cả vì niềm tin yêu đó.

Thể theo lời Ðức Giêsu cầu xin, Chúa Cha đã ban Thánh Thần để quy tụ chúng ta thành Giáo Hội. Lạy Chúa Cha nhân hậu, không bao giờ chúng con có thể khám phá được hết những kỳ diệu của tình yêu Chúa dành cho chúng con trong cuộc sống. Ước gì Thánh Thần Chúa thâm nhập lòng trí chúng con, và biến đổi cuộc đời chúng con nên một lời ca tụng tình thương của Chúa.

Thánh Ca : Thánh Thần - Xin ngài hãy đến



NGƯỜI TRỒNG CÂY SỒI
Cha Mark Link, S.J.

Vào năm 1983, trong khi Israel chiếm đóng Lebanon, thì tại Evanston thuộc tiểu bang Illinois, có một cậu bé 13 tuổi làm lễ Bar Mitzvah để được công nhận đã tới tuổi trưởng thành. Sau nghi lễ, cậu bé liền đọc lá thư cậu tính gởi cho Thủ Tướng đương thời của Israel là Menachem Begin. Cậu giới thiệu cho các bạn về lá thư đó như sau:

"Nghi Lễ Bar Mitzvah tôi vừa lãnh nhận đánh dấu thời điểm tôi trở thành một người Do Thái trưởng thành... Tôi có bổn phận nói lên cảm nghĩ của mình... Vì vậy tôi tính viết một lá thư gởi cho Thủ Tướng Begin. Tôi xin đọc cho các bạn nghe:

"Trọng kính Thủ Tướng Begin, nhân dịp cháu nhận lãnh nghi lễ Bar Mitzvah cháu cảm thấy mình có bổn phận nói lên cảm nghĩ về cuộc chiến ở Labanon..."

"Cháu hiểu được lý do khiến ngài đã hành động, tuy nhiên cháu vẫn nghĩ rằng chiến tranh là một phương cách sai trái. Nếu điều này có xảy ra lần nữa, cháu khuyên ngài nên là kẻ dấn thân đầu tiên vào việc tìm kiếm hoà bình... Bằng cách đi đến từng quốc gia Ả Rập giống như ngài Sadat đã đến Israel. Nếu Israel sống hoà bình với người Ả Rập thì PLO (Mặt trận giải phóng Palestine) sẽ không còn căn cứ để gây tổn thương và giết chóc dân Do Thái ở Israel nữa."

Kết thúc lá thư, cậu bé viết: "Thay vì mua những vật trang hoàng bàn ăn, cũng như kẹo và hạt dẻ để ăn tiệc mừng lễ Bar Mitzvah của cháu, cháu đã xin gia đình gởi món tiền ấy cho bệnh viện ở Netanya tại Israel, nơi những người Do Thái bị thương trong chiến tranh hiện đang điều trị. Kính thư. Peter Burgh"

Trong ngày lễ Hiện Xuống hôm nay, lá thư vào dịp lễ Bar Mitzvah cũng như món tiền Peter gởi đến bệnh viện Do Thái nói lên điều gì với chúng ta đây?

Nghi thức Do Thái Bar Mitzvah uỷ nhiệm cho thanh niên Do Thái một vai trò tích cực hơn trong cộng đồng Do Thái. Nghi thức ấy mời gọi họ vào việc phụng sự và trách nhiệm dành riêng cho người đã trưởng thành. Nghi thức Do Thái Bar Mitzvah khá giống với Bí Tích Thêm Sức Kitô giáo. Bí tích Thêm Sức cũng uỷ nhiệm cho thanh niên Kitô giáo vai trò tích cực hơn trong cộng đồng Kitô Giáo. Mời gọi họ vào việc phụng sự và trách nhiệm dành riêng cho người trưởng thành.

Lá thư và món tiền của Peter Burgh cho thấy nỗ lực thi hành những trách nhiệm mới mẻ dành cho người trưởng thành nơi cậu ta. Chúng trình bày cho thấy nỗ lực dấn thân ngay vào dịp nhận nghi thức Bar Mitzvah của cậu.

Ðây là một trong những mục đích chúng ta mừng lễ Hiện Xuống hàng năm. Lễ Hiện Xuống tác động như một lời mời gọi chúng ta phụng sự. Lễ này nhắc nhở kitô hữu trên toàn thế giới phải dấn thân ngay sau nghi thức Thêm Sức của mình. Phải chuyển nghi thức ấy thành hành động cụ thể.

Ðối với một số kitô hữu, điều này có nghĩa là được mời gọi đảm nhận vai trò phụng sự thuộc cấp cao hơn, tức là làm chứng cho Phúc âm một cách rõ ràng công khai truyền hoặc giảng Phúc Âm và thi hành quyền lãnh đạo công khai trong cộng đồng Kitô giáo. Còn đối với những Kitô hữu khác, việc dấn thân này lại mang ý nghĩa việc phụng sự thuộc tầng cấp thấp hơn, tức là làm chứng cho Phúc âm một cách ít rõ ràng hơn. Chẳng hạn như cầu nguyện và hy sinh cho cộng đồng kitô giáo giống trường hợp Peter Burgh đã làm đối với cộng đồng Do Thái của cậu ta.

Việc phục vụ của người kitô hữu khác biệt nhau bởi vì ân sủng thiêng liêng của người kitô hữu cũng khác nhau. Thánh Phaolô đã nêu ra điểm này trong thư thứ nhất gởi tín hữu Corintô như sau: "Có nhiều loại ân sủng thiêng liêng khác nhau nhưng cũng đều do một Thần Khí ban cho. Có nhiều phương cách phục vụ khác nhau nhưng chỉ có một Ðức Chúa được phụng sự. Có nhiều khả năng phụng sự khác nhau nhưng chỉ có một Thiên Chúa ban cho mỗi người một khả năng phục vụ riêng" (1 cr 12: 4-6).

Lễ Hiện Xuống mời gọi mỗi người chúng ta thực hành các ân sủng thiêng liêng mà chúng ta nhận lãnh vào dịp lễ Thêm Sức của chúng ta. Lễ Hiện Xuống mời gọi chúng ta hành động và bảo chúng ta phải dấn thân ngay sau nghi thức lãnh nhận bí tích Thêm Sức và chuyển biến nó thành hành động.

Tôi xin minh hoạ điều ấy bằng câu chuyện sau:

Vào thập niên 1930, có một du khách trẻ đi thám hiểm, dãy núi Alpes thuộc nước Pháp. Anh ta đi đến một dải đất trọc rộng mênh mông. Dải đất này vừa hoang vắng, vừa cấm lai vãng, lại vừa xấu xí nữa. Ðúng là một nơi mà qúi bạn sẽ vội vã đi ngay.

Ðột nhiên người du khách trẻ dừng sững lại trên lối đi. Ngay giữa vùng đất hoang vu mênh mông là một ông già đang khom lưng mang trên túi hạt sồi, tay cầm một ống sắt dài bốn bộ (cỡ 1m2). Ông ta đang dùng ống sắt ấy đâm xuống làm thành những chiếc lỗ trong đất đoạn bốc ra từ chiếc túi những hạt sồi rồi đặt vào mỗi lỗ một hạt. Ông nói với chàng du khách: "Tôi đã trồng hơn 100 ngàn hạt sồi. Có lẽ chỉ một phần mười số hạt sẽ mọc lên". Vợ con ông đã chết cả rồi, và ông dồn những năm cuối đời để làm việc này. Ông nói: "Tôi muốn làm một điều hữu ích."

Hai mươi năm sau, người du khách về lại miếng đất hoang vu dạo trước. Ðiều trông thấy trước mắt khiến chàng sửng sốt đến nỗi chàng không thể tin vào mắt mình. mảnh đất hiện được phủ rợp bởi một cánh rừng xinh đẹp rộng hai dặm và dài năm dặm. Nơi đây có chim chóc ca hát, các loài thú nô đùa và hoa rừng ngát hương.

Người du khách đứng lặng ở đó vừa nhớ lại mảnh đất hoang vu trước đây bây giờ đã thành mảnh đất xinh đẹp. Tất cả là đều do có người chăm sóc nó.

Lễ Hiện Xuống có một lời mời gọi hành động. Lễ này mời gọi chúng ta góp phần mở rộng Nước Chúa trên traí đất. Quí vị cũng như tôi có thể thay đổi một phần của nó như ông già đã làm.

Chúng ta đã nhận lãnh túi đựng hạt sồi và khúc ống sắt khi chúng ta chịu bí tích Thêm Sức. Bây giờ chúng ta phải làm nên một cái gì với những vật dụng trên. Chỉ cần một ít can đảm -- giống như lòng can đảm của Peter Burgh biểu lộ trong việc viết thư cho Thủ tướng Begin hoặc lòng can đảm của ông già trong việc trồng hạt sồi.

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện.

"Xin hãy đến!
Lạy Chúa Thánh linh, xin Ngài hãy đến!
Xin hãy đến làm ánh sáng hứơng dẫn chúng con.
Xin hãy đến làm sức mạnh nâng đỡ chúng con.
Xin hãy đến, lạy Chúa Thánh linh.
Xin Ngài hãy đến!
Xin hãy giúp chúng con đổi mới bộ mặt trái đất.".

Thánh Ca : Lắng nghe Lời Chúa



TIN, CẬY, MẾN
Msgr. Edward Peter Browne
L. M. Gioan Trần Khả chuyển dịch

Cách đây vài tuần, chiếc đồng hồ đeo tay cũ tôi đã dùng suốt 30 năm tự nhiên ngừng chạy. Tôi cần một cái đồng hồ mới, và bất ngờ đọc thấy quảng cáo trên báo chiếc đồng hồ rẻ bán ở ngoài chợ. Tôi đã đi tới đó để mua chiếc đồng hồ này. Nó nhìn khá sang. Hai mươi mốt đô. Bảo đảm 10 năm. Tôi nghĩ đó là gía rất rẻ. Tôi đã đi vào tiệm, mua chiếc đồng hồ và đi ra. Nhưng cái đã làm tôi chú ý khi đi trong chợ là hàng ngàn người đi tìm mua sắm ở đó, và tôi đã nghĩ rằng có hàng triệu mặt hàng trong các cửa tiệm khác nhau, chẳng có cái nào tôi muốn và cũng chẳng có cái nào tôi cần.

Tôi nghĩ như thế. Chúng ta có nhiều cái chẳng hữu ích gì và chắc chắn là chẳng cần đến chúng. Hãy đi về nhà và quan sát, bạn sẽ nhận thấy những thứ mà bạn không biết là mình có, những bộ quần áo đã nằm treo trong tủ nhiều năm. Có thể bạn đã chẳng biết là chúng ở đó và đã chẳng bao giờ dùng đến. Có những cái nằm giấu ẩn lâu ngày trong hốc tủ hay trong ngăn kéo. Tôi biết vài người giống như cô em của tôi. Cô ta thường làm như vậy. Cô đi mua sắm thứ gì đó, bỏ nó trên kệ và ba năm sau mở ra hộp ra không biết trong đó là cái gì. Nhiều người đi mua sắm những cái họ thực sự chẳng cần. Có rất nhiều thứ vô dụng trong thế gian này. Có vài thứ chúng ta cần, nhưng không có nhiều lắm.

Tin

Có ba cái chúng ta chắc chắn phải có. Chúng ta không thể sống mà không có chúng. Thứ nhất là Niềm Tin. Bạn không thể tiếp tục sống mà không có niểm tin. Ngay cả ở nếp sống trần tục chứ không nói theo tôn giáo, bạn cần phải có niềm tin. Bạn thức dạy ban sáng, đi làm, bạn tin là chiếc xe ô-tô-buýt sẽ chờ ở trạm, xe của bạn sẽ nổ máy, việc làm của bạn vẫn còn đó, bạn sẽ có những khách hàng để phục vụ, hay bất cứ điều gì khác. Bạn có niềm tin ở nhiều thứ và những cái khác nhau. Khi thức dạy vào sáng Chúa Nhật bạn tin là sẽ có linh mục làm lễ ở nhà thờ đây. Bạn tin như thế. Có nhiều thứ trong đời sống bạn chỉ tin là như thế. Bạn tin vào việc giáo dục. Chẳng có người nào ở thế gian này có thể biết hết mọi kiến thức hiện diện trên toàn thế giới, do đó chúng ta tùy thuộc vào người khác để học hỏi và thông đạt đến cho chúng ta. Chúng ta có niềm tin nơi những người đó.

Và dĩ nhiên là có một loại niềm tin quan trọng, niềm tin đến với chúng ta qua ơn thánh của Thiên Chúa. Đức tin đó tuyệt đối tối quan trọng. Không có đức tin đó chúng ta không có hy vọng cho phần rỗi. Không có đức tin đó chúng ta không nhận biết Thiên Chúa; chúng ta không hiểu biết về Ngài và được cứu rỗi. Không có đức tin chúng ta không thể thăng tiến trong ơn thánh của Chúa; chúng ta không thể đưa mình đi theo mục đích của đời sống chúng ta, đó là ơn cứu rỗi. Chúng ta không thể hoàn thành được điều đó mà không có đức tin. Do đó đức tin trở nên phần nồng cốt của cuộc sống. Nếu bạn không có niềm tin vào Thiên Chúa, bạn không tin vào Chúa Giêsu Kitô. Nếu bạn không tin nhận những giáo huấn của Hội Thánh Ngài, là Thân Thể của Chúa Kitô, thì bạn thật xui xẻo về phần rỗi của bạn, bởi vì bạn đang chới với tìm bám víu vào cái gì đó, và đức tin của bạn mới là cái neo cho ơn cứu độ.

Cậy

Điều thứ hai chúng ta không thể thiếu đó là lòng trông cậy. Chúng ta phải có lòng trông cậy. Nếu không thì đời sống trở nên vô dụng, đầy những phân tâm, lo sợ và buồn chán. Trong cuộc sống hàng ngày có những điều bạn mong đợi được hoàn tất. Bạn mong đợi khỏi cảm cúm. Bạn trông là sẽ có người chăm lo cho bạn. Bạn hy vọng là việc làm của bạn sẽ còn vào sáng ngày hôm sau. Không có niềm trông mong hy vọng này thì cuộc đời sẽ là một thất vọng lớn.

Nhưng quan trọng hơn là lòng trông cậy nơi Chúa. Chúng ta có sự trông mong vững vàng bởi vì chúng ta có đức tin. Chúng ta tin tưởng nơi Thiên Chúa và chúng ta tin là Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta tất cả những điều cần thiết cho ơn cứu rỗi của chúng ta. Do đó chúng ta hy vọng. Chúng ta hy vọng có đời sống viên mãn bởi vì Thiên Chúa đã nói Ngài sẽ cho chúng ta niềm hy vọng của đời sống, do đó chúng ta có niềm hy vọng này trong chúng ta. Nếu chúng ta không có niềm hy vọng đó, cuộc đời sẽ vô nghĩa. Thiếu vắng hy vọng là lý do làm cho đời sống trong thế giới ngày nay trở nên phế thải, bị coi như vô nghĩa vô dụng. Chúng ta sống trong một nền văn hóa sự chết. Nếu nó không còn làm việc được nữa thì giết quách đi. Nếu nó trở nên già cỗi rồi thì giết bỏ. Nếu đứa trẻ trở thành chướng vật cản trở thì giết chết đi. Thế gian có cái não trạng như thế và có lẽ nó là một trong những lý do là người ta không có lòng trông cậy. Họ không hiểu rằng sự sống là qúi gía đối với Thiên Chúa và Ngài sẽ mang sự sống này vào cõi đời đời. Do đó hy vọng trông cậy là cái phải có trong đời sống của chúng ta.

Yêu

Dĩ nhiên, điều thứ ba là tình yêu. Trong đời sống tự nhiên chúng ta không thể sống ở thể giới này mà không có tình yêu. Tình yêu của cha mẹ, tình yêu của con cái, của chồng, của vợ, tình yêu của hàng xóm, láng giềng, của những người bạn quen biết. Nhưng hơn hết, bạn phải có lòng trông cậy thiêng liêng, tình yêu thiêng liêng mà Thiên Chúa xếp đặt trong linh hồn chúng ta qua đức ái. Và tình yêu đó có nghĩa là chúng ta có thể nhận biết Thiên Chúa; chúng ta có thể yêu mến Thiên Chúa. Và bởi vì chúng ta yêu mến Thiên Chúa nên chúng ta yêu thương người khác.

Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống khi tình yêu của Thiên Chúa được tuôn đổ trên chúng ta. Chúa Thánh Thần đến với chúng ta, đến trong chúng ta, đổ tràn đầy chúng ta với ơn thánh của Ngài và Ngài đổ đầy đức tin, đức cậy và đức ái, ba nhân đức trụ tối cần thiết cho đời sống. Chúa Thánh Thần đến với chúng ta và ban cho chúng ta những nhân đức này. Hôm nay chúng ta mừng biến cố trọng đại này khi Chúa Giêsu Kitô phái Thánh Thần của Ngài trên các tông đồ và trên chúng ta. Nhờ bí tích Rửa Tội và Thêm Sức chúng ta được đầy Thánh Thần và bởi vì Thánh Thần ngự trong chúng ta, chúng ta có đức tin, đức cậy và đức ái. Không có ba ơn thánh sủng này, không có ba nhân đức này, đời sống là một sự thừa thãi, lo sợ và chúng ta sẽ không có hy vọng. Nhưng chúng ta biết, vì đức tin, chúng ta hy vọng trông cậy nơi Thiên Chúa và chúng ta yêu mến Thiên Chúa và được bảo đảm đời sống vĩnh cửu.

Xin Chúa chúc lành cho các bạn.

Thánh Ca : Con Trông Cậy Chúa